vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Anh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Anh Q 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2025). Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trịnh Anh Q.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Anh Q phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Anh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025 /HS - ST
Ngày 28/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Dung

2. Bà Lê Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST - HS ngày 13 tháng 8 năm 2025 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST – HS ngày 15/8/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Anh Q - sinh ngày: 14/11/1974 tại xã Thạch Bình, tỉnh Thanh Hoá. Số CCCD: 038074xxxxxx. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn V1, xã N, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Đình C –sinh năm 1937 và con bà Phạm Thị B - sinh năm: 1953. Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H - sinh năm 1977, bị cáo có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2006). Tiền án: không; tiền sự: không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 06/2025/LCĐKNCT ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa; Có mặt.

* Người bị hại: Anh Đỗ Văn Q1 – sinh ngày 10/9/2007 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị H1 – sinh năm 1975

Địa chỉ: Khu phố T, xã V, tỉnh T.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Trần Ngọc M – sinh ngày 03/6/2007

Địa chỉ: Khu phố T, xã V, tỉnh T.

- Anh Mai Văn Lượng – sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn K, xã V, tỉnh T.

Những người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Anh Q, sinh năm 1974 trú tại thôn V1, xã N, tỉnh T, được Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình cấp GPLX số 370129000493, hạng C, cấp ngày 20/11/2020, có giá trị đến 20/11/2025. Ngày 31/03/2025, Trịnh Anh Q điều khiển xe ô tô tải BKS 36C -393.xx chở máy ép cọc đi làm công trình ở xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Cẩm Vân, tỉnh Thanh Hóa). Khoảng 18 giờ làm xong việc, Trịnh Anh Q một mình điều khiển xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx, không chở theo hàng hóa gì, đi về nhà theo hướng từ phố Kiểu, xã Yên Trường, huyện Yên Định (nay là xã Yên Trường, tỉnh Thanh Hóa) đi theo QL45 về thị trấn V, huyện V (nay là xã V, tỉnh Thanh Hóa), rồi rẽ vào tỉnh lộ 522C đi ra đường tránh xã V để về xã Kim Tân. Đến khoảng 18 giờ 40 phút, Q đi đến khu vực ngã tư có đèn tín hiệu giao thông thuộc khu 3, xã V, đoạn nối tỉnh lộ 522C, QL45 và QL 217. Đèn tín hiệu màu xanh nên Q điều khiển xe ô tô tải đi thẳng vào khu vực ngã tư. Lúc này, Đỗ Văn Q1, sinh năm 2007, trú tại khu phố T, xã V, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe máy điện BKS 36MĐ8-223.xx chở theo Trần Ngọc M, sinh năm 2007, trú tại khu phố T, xã V, tỉnh Thanh Hoá đi trên Quốc lộ 45 vào ngã tư, đi song song cùng chiều bên phải với xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx. Khi đi qua đèn tín hiệu, Trịnh Anh Q đã không chú ý quan sát người và phương tiện đi theo chiều bên phải của mình, bật đèn xi nhan phải chuyển hướng xe ô tô về tỉnh lộ 522C không đảm bảo an toàn. Khi đầu xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx bắt đầu chuyển hướng vào tỉnh lộ 522C, xe máy điện BKS 36MĐ8-223.xx đi tới thì xảy ra va chạm với nhau. Cụ thể mặt trước dưới bên trái ba-đờ-sốc trước xe ôtô BKS 36C-393.xx va chạm với mặt ngoài trên bên trái yên xe máy điện BKS 36MĐ8 - 223.xx. Sau va chạm, cả Đỗ Văn Q1 và Trần Ngọc M cùng chiếc xe máy điện BKS 36MĐ8 - 223.xx đổ xuống đường và trượt về phía trước thì bánh xe phía trước bên trái xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx chèn qua người Đỗ Văn Q1. Hậu quả, Đỗ Văn Q1 bị thương tích nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu, xe máy điện bị hư hỏng nhẹ.

Sau khi xảy ra tai nạn, Trịnh Anh Q đã đến trụ sở Công an thị trấn V xin đầu thú vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 31/3/2025. Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra, đo nồng độ cồn trong hơi thở và các chất gây nghiện trong nước tiểu đối với Trịnh Anh Q theo quy định. Kết quả Trịnh Anh Q không sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện khác trước, trong khi điều khiên phương tiện. Đồng thời tiến hành lấy mẫu máu của Trịnh Anh Q và Đỗ Văn Q1 để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận số 1485/KL-KTHS ngày 28/04/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

“- Mẫu máu của Trịnh Anh Q, sinh năm 1974, trú tại V1, xã T, huyện T, tỉnh T niêm phong gửi giám định không có Ethanol (cồn).

- Mẫu máu của Đỗ Văn Q1, sinh năm 2007, trú tại khu phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh T niêm phong gửi giám định không có Ethanol (cồn).”

Tại bản kết luận giám định số 3215/KL-KTHS ngày 25/04/2025 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

“- Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Trịnh Anh Q gửi giám định.”

* Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông hồi 20 giờ 20 phút ngày 31 tháng 3 năm 2025, thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Tỉnh lộ 522C lòng đường rộng 10,6m, đường chưa có vạch sơn phân chia lòng đường và lề đường, hướng Đông Bắc đi huyện Cẩm Thuỷ lề đường bên trái có cột biển báo chỉ hướng đường, Tỉnh lộ 522C giao nhau với Quốc lộ 217 và Quốc lộ 45, thuộc khu 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hoá. Đây là khu vực ngã tư có hệ thống đèn tín hiệu, đường được trải nhựa bằng phẳng, trong khu vực ngã tư có các vạch đứt quãng kẻ đường. Quốc lộ 217 hướng Bắc đi huyện Cẩm Thuỷ rộng 9,45m, lề đường bên phải có cột biển báo giao nhau có tín hiệu đèn, cột biển báo đi chậm và cột biển báo chỉ hướng đường. Hướng Nam đi huyện Yên Định rộng 8,15m, lề đường phải có cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Quốc lộ 45 hướng Tây Nam đi huyện Yên Định rộng 10,0m, có cột biển báo giao nhau của đường đồng cấp, cột biển báo chỉ hướng đường, cột biển báo đi chậm và cột biển báo giao nhau có tín hiệu đèn. Đường trong khu phố hướng Tây Bắc đi khu 3 rộng 3,95m lề đường trái có cột biển báo giao nhau với đường ưu tiên.

Thống nhất lấy hướng Tây Nam-Đông Bắc làm hướng khám nghiệm; lấy cột điện nằm trên phần đất lưu không bên phải Quốc lộ 217 cách mép đường về hướng Đông là 4,0 m làm mốc cố định (ký hiệu A); Lấy mép đường phía Tây Quốc lộ 217 làm mép chuẩn (ký hiệu: B), tiến hành khám nghiệm ghi nhận các dấu vết:

Vị trí số 1: Vết cà cách quãng trên mặt đường dài 4,70m, rộng 0,02m, vết có chiều từ Tây Nam sang Đông Bắc, đầu vết cách đường thẳng ảo vuông góc với A là phía Nam là 25,80m, đầu vết cách B về phía Tây là 10,45m, cuối vết trùng với bên phải chân chống giữa xe máy điện BKS: 36MĐ8-223.xx. Đo từ đầu vết cà cách quãng đến đầu vạch dừng tín hiệu đèn giao thông phía Tây Nam đường Quốc lộ 45 là 44,75m.

Vị trí số 2: Cách đầu vết (1) 3,25m là vết cà cách quãng trên mặt đường dài 1,52m, rộng 0,02m, vết có chiều từ Tây Nam sang Đông Bắc, đầu vết cách B về phía Tây là 11,82m, cuối vết cách B về phía Tây là 12,58m.

Vị trí số 3: Cách đầu vết (2) 2,1m là vết cà cách quãng trên mặt đường dài 3,98 m, rộng 0,02m, vết có chiều từ Tây Nam sang Đông Bắc, đầu vết cách B về phía Tây là 11,47m, cuối vết cách B về phía Tây là 12,90m.

Vị trí số 4: Cách cuối vết (3) 0,8m là xe máy điện BKS: 36MĐ8-223.xx trong tư thế ngã nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe hướng Tây Bắc, trục trước của xe cách B về phía Tây là 11,77m, đuôi xe hướng Đông Nam, trục sau của xe cách B về phía Tây là 12,37m.

Vị trí số 5: Cách trục sau xe máy điện (4) 1,55m là vết tỳ trượt bám dính chất màu đen (dạng cao su) trên mặt đường dài 2,55m, rộng 0,22m, vết có chiều từ Tây Nam sang Đông Bắc, đầu vết cách B về phía Tây là 13,36m, cuối vết trùng với bánh trước bên trái xe mô tô BKS: 36C-293.xx.

Vị trí số 6: Cách đầu vết tỳ trượt (5) 2,12m là chất màu đỏ (nghi là máu) bám dính trên mặt đường, không rõ hình trong diện 0,40m x 0,22m, tâm chất màu đỏ cách B về phía Tây 15,0m.

Vị trí số 7: Cách tâm chất màu đỏ (6) 0,40m là trục bánh trước bên trái xe ô tô BKS: 36C-393.xx dừng ở trên mặt đường, đầu xe hướng Đông Bắc, trục bánh trước bên trái xe ô tô cách B về phía Tây là 15,65m, đuôi xe hướng Tây Nam, trục bánh sau bên trái xe ô tô cách B về phía Tây là 11,53m.

* Biên bản xem xét dấu vết thân thể đối với Trần Ngọc M, sinh ngày 03/6/2007 trú tại khu phố T, xã V, tỉnh T vào hồi 20 giờ 00 phút tại Bệnh viện đa khoa huyện V, thể hiện: “ - Không phát hiện thấy có dấu vết trên thân thể./.”

Trần Ngọc M cùng người giám hộ là ông Trần Ngọc H2 (bố đẻ của M) có đơn xin từ chối giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra.

* Khám nghiệm tử thi và kết luận giám định tử thi: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định trưng cầu giám định tử thi, xác định nguyên nhân chết của Đỗ Văn Q1 để có căn cứ xử lý vụ tai nạn theo đúng quy định.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số: 1397/KLGĐTT-PC09 ngày 22/04/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận đối với: Đỗ Văn Q1, sinh năm 2007, trú tại khu phố T, xã V, tỉnh T:

- Kết quả khám nghiệm:

+ Các vết rách da, sây sát da, bầm tụ máu tại vùng: Mặt, cổ, ngực, bụng, lưng, tứ chi.

+ Vỡ xương bánh chè phải; gãy đầu dưới xương đùi phải.

+ Tụ, ngấm máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng.

+ Gãy cung trước xương sườn số 2,3,4 bên trái.

+ Máu không đông tại: Khoang ngực hai bên, khoang ngoài tim và ổ bụng.

+ Dập, rách, tụ máu tổ chức hai phổi.

+ Rách bán phần quai động mạch chủ.

+ Rạn vỡ nhu mô gan.

- Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.

- Kết quả khác: Không.

* Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu cấp do rách bán phần quai động mạch chủ trên cơ thể đa chấn thương. Kết luận khác: Không.

* Kết luận trưng cầu giám định khám nghiệm phương tiện:

- Tại bản kết luận giám định số: 1434/KL-KTHS ngày 25/04/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

“1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước dưới bên trái ba-đờ-sốc trước (cách thành xe bên trái 70cm) xe ôtô BKS 36C-393.xx (ảnh 9 đến 12) với mặt ngoài trên bên trái yên xe máy điện BKS 36MĐ8 - 223.xx (ảnh 21 đến 23).

2. Tại thời điểm va chạm xe máy điện BKS 36MĐ8 – 223.xx có hướng cùng chiều và chuyển động từ phải sang trái so với xe ôtô BKS 36C-393.xx.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt cách quãng mặt đường số (1), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực giao nhau giữa Quốc lộ 217 với Tỉnh lộ 522C và Quốc lộ 45.

4. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.

5. Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ôtô BKS 36C-393.xx với Đỗ Văn Q1 và Trần Ngọc M.

Dấu vết ghi nhận tại mặt trước ngoài bên phải ba-đờ-sốc trước, mặt trong dưới ống dẫn bên trái gầm đầu xe, mặt trước dưới cầu trước ôtô BKS 36C- 393.xx (ảnh 5 đến 8 và ảnh 13 đến 16) phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.”

* Giám định dữ liệu điện tử (Camera)

- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa tiến hành trích xuất dữ liệu camera, niêm phong và trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định kỹ thuật số điện tử đối với các đoạn video liên quan đến vụ án gồm: 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn video trích xuất tại nhà anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1991 trú tại thôn 3, xã V, tỉnh Thanh Hóa; 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn video trích xuất tại quán sửa xe nhà anh Mai Văn L trú tại khu 3, xã V, tỉnh Thanh Hóa.

- Tại bản kết luận giám định số: 1593/KL-KTHS ngày 09/05/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận (BL số 147):

“- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp video của 02 (hai) đĩa DVD gửi giám định.

- Trích xuất một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định – Thể hiện trong Phụ lục”.

Về điều kiện tham gia giao thông và lỗi của người điều khiển phương tiện:

Bị cáo Trịnh Anh Q có giấy phép lái xe hạng C có giá trị đến 20/11/2025, đủ điều kiện điều khiển xe ô tô BKS 36C – 393.xx tham gia giao thông. Tuy nhiên, quá trình tham gia giao thông Q đã không chú ý quan sát người và phương tiện đi theo chiều bên phải của mình và chuyển hướng sang phải vào đường tỉnh lộ 522C không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe máy điện BKS 36MĐ8 – 223.xx do Đỗ Văn Q1 điều khiển. Hậu quả, Đỗ Văn Q1 bị thương tích và tử vong trên đường đi cấp cứu, xe máy điện bị hư hỏng nhẹ. Hành vi điều khiển xe ô tô tải của Trịnh Anh Q đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Cụ thể tại khoản 2, Điều 15, Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, quy định về chuyển hướng xe “2. Trước khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía sau, giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ ... Khi bảo đảm an toàn, không gây trở ngại cho người và phương tiện khác mới được chuyển hướng” đây là phần lớn nguyên nhân dẫn tới tai nạn.

Đối với Đỗ Văn Q1 khi tham gia giao thông đến ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 522C, đường quốc lộ 217 và đường Quốc lộ 45 thuộc khu 3, xã V, tỉnh Thanh Hoá đây là khu vực ngã tư có hệ thống đèn tín hiệu, đoạn đường cùng cấp, Đỗ Văn Q1 đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, dẫn đến điều khiển xe máy điện và va chạm với xe ô tô. Hậu quả Đỗ Văn Q1 bị thương tích nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi của Q1 đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Cụ thể: tại điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe: “3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây: b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm ...; d)Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ...”. Hành vi của Q1 dẫn đến hậu quả cho chính bản thân mình, nhưng do Q1 đã chết nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 xe ô tô tải (có cần cẩu) BKS 36C – 393.xx, nhãn hiệu CHIENTHANG, số khung: RLDTT61TCEDD00066; số máy: YC4D12020D1009E00385. Xe cũ đã qua sử dụng. 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 36 000100, tên chủ xe: Trịnh Anh Q, biển số đăng ký: 36C – 393.xx. 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ gới đường bộ số: DB 3677889. 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số: AD23/0637116.Quá trình điều tra xác định: đây là tài sản hợp pháp của Trịnh Anh Q nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Q định trả tài sản trên cho Trịnh Anh Q.

- 01 xe máy điện BKS 36MĐ8 – 223.xx, bị hư hỏng. Quá trình điều tra xác định: đây là tài sản hợp pháp của gia đình ông Đỗ Văn Tám và bà Đặng Thị H1 nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Q định trả tài sản trên cho bà Đặng Thị H1.

- 01(một) giấy phép lái xe số 370129000493, hạng C, cấp ngày 20/11/2020, có giá trị đến 20/11/2025 mang tên Trịnh Anh Q. 02 đĩa DVD - R được niêm phong trong phong bì thư. Vật chứng nêu trên đi kèm theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo Trịnh Văn Q và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường dân sự với tổng số tiền là 210.000.000đ. Gia đình bị hại đã nhận đầy đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Đối với chiếc xe máy điện bị hư hỏng nhẹ bà Đặng Thị H1 không yêu cầu xác định thiệt hại của chiếc xe và không yêu cầu bồi thường.

- Đối với anh Trần Ngọc M: Anh M cùng người giám hộ là ông Trần Ngọc H2 từ chối giám định thương tích và có đơn không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT- VKSKV7 ngày 12/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Trịnh Anh Q về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Trịnh Anh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt: bị cáo Trịnh Anh Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 26 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trịnh Anh Q.

- Về bồi thường dân sự: Bị cáo Trịnh Anh Q đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại với số tiền 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng). Đại diện gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu hay đề nghị gì thêm.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải Q về vật chứng vụ án, về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trịnh Anh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên đủ sơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 31/03/2025, Trịnh Anh Q có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô tải BKS 36C – 393.xx tham gia giao thông trên QL45 theo hướng xã Yên Trường đi xã V. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa tỉnh lộ 522C, Quốc lộ 217 và Quốc lộ 45 thuộc khu 3, xã V, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Anh Q đã không chú ý quan sát người và phương tiện đi theo chiều bên phải của mình (không quan sát thấy xe máy điện BKS 36MĐ8-223.xx do Đỗ Văn Q1 điều khiển chở theo Trần Ngọc M đi song song cùng chiều bên phải với xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx) và chuyển hướng sang phải vào tỉnh lộ 522C không bảo đảm an toàn. Khi đầu xe ô tô tải BKS 36C - 393.xx bắt đầu chuyển hướng, xe máy điện BKS 36MĐ8-223.xx đi tới thì xảy ra va chạm với nhau. Cụ thể mặt trước dưới bên trái ba-đờ-sốc trước xe ôtô BKS 36C-393.xx va chạm với mặt ngoài trên bên trái yên xe máy điện BKS 36MĐ8 - 223.xx. Hậu quả, Đỗ Văn Q1 bị thương tích và tử vong trên đường đi cấp cứu, xe máy điện bị hư hỏng nhẹ.

Hành vi điều khiển xe ô tô tải của Trịnh Anh Q đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Cụ thể tại khoản 2, Điều 15, Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, quy định về chuyển hướng xe “2. Trước khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía sau, giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ ... Khi bảo đảm an toàn, không gây trở ngại cho người và phương tiện khác mới được chuyển hướng”. Đây là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra tai nạn dẫn đến hậu quả Đỗ Văn Q1 tử vong. Hành vi của Trịnh Anh Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng của người khác và làm mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến quy tắc tham gia giao thông mà pháp luật quy định. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của người tham gia giao thông đường bộ, mà còn gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Để đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm nói chung và lập lại trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng, cần thiết phải có hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo để trừng phạt và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật. Bởi vậy, cần lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung cũng như có đủ thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã đầu thú, chủ động, tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho gia đình người bị hại, bị cáo được UBND xã N xác nhận trước và sau khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các nội quy, quy định nơi cư trú, hiện nay điều kiện sống, sinh hoạt của gia đình bị cáo gặp rất nhiều khó khăn, vất vả. Bên cạnh đó, người bị hại cũng có một phần lỗi, gia đình người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hiện tại, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang phải chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ già. Vì vậy, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Đỗ Văn Q1 điều khiển xe máy điện BKS 36MĐ8 – 223.xx chở theo Trần Ngọc M theo hướng từ khu 3, xã V khi tham gia giao thông đến ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 522, đường quốc lộ 217 và đường Quốc lộ 45, đây là khu vực ngã tư có hệ thống đèn tín hiệu, đoạn đường cùng cấp, Đỗ Văn Q1 đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, dẫn đến điều khiển xe máy điện và va chạm với xe ô tô. Hậu quả Đỗ Văn Q1 bị thương tích nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi điều khiển xe máy điện của Q1 đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Cụ thể tại điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe: “3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây: b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm …; d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ…”. Hành vi của Đỗ Văn Q1 đã gây hậu quả cho chính bản thân mình, nhưng do Q1 đã chết nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo Trịnh Anh Q đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại Đỗ Văn Q1 với số tiền 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng). Đại diện gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu hay đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với Trần Ngọc M: Sau khi sự việc tai nạn xảy ra M không bị thương tích, bản thân M không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự.

Về phần hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo làm nghề lái xe đang chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ già, thu nhập thấp và không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô tải (có cần cẩu), xe cũ đã qua sử dụng, BKS 36C – 393.xx, nhãn hiệu CHIENTHANG, số khung: RLDTT61TCEDD00066; số máy: YC4D12020D1009E00385; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 36 000100, tên chủ xe: Trịnh Anh Q, biển số đăng ký: 36C – 393.xx; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ gới đường bộ số: DB 3677889; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số: AD23/0637116 là tài sản hợp pháp của Trịnh Anh Q nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa trả tài sản trên cho Trịnh Anh Q là phù hợp.

- 01 xe máy điện BKS 36MĐ8 – 223.xx, bị hư hỏng nhẹ là tài sản hợp pháp của gia đình ông Đỗ Văn Tám và bà Đặng Thị Hà nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã trả tài sản trên cho gia đình bà Đặng Thị Hà là phù hợp.

- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số 370129000493, hạng C, cấp ngày 20/11/2020, có giá trị đến 20/11/2025 mang tên Trịnh Anh Q chuyển theo hồ sơ vụ án nên trả lại cho bị cáo Trịnh Anh Q là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Lưu hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD - R được niêm phong trong phong bì thư.

Về án phí: Bị cáo Trịnh Anh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

1. Căn cứ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Anh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

3. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Anh Q 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2025).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trịnh Anh Q.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Trịnh Anh Q cho UBND xã N, tỉnh Thanh Hoá giáo dục; Công an xã N giám sát, lập hồ sơ, báo cáo cơ quan Thi hành án hình sự công an cấp tỉnh khi phát hiện người thi hành án hình sự tại cộng đồng có vi phạm pháp luật. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106, 107 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Trịnh Anh Q 01 (một) giấy phép lái xe số số 370129000493, hạng C, cấp ngày 20/11/2020, có giá trị đến 20/11/2025 mang tên Trịnh Anh Q. Khi bản án có hiệu lực pháp luật Toà án sẽ chuyển giao bản án kèm theo giấy phép lái xe cho cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá để trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lưu hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD - R được niêm phong trong phong bì thư.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Anh Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ