vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định v…

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 11/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Lin phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định v…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 25-7-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Luân.

Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5–Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5–Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Trọng L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường T, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố V, phường Ng, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng D và bà Nguyễn Thị S (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Th, con: Có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Ngày 31/5/2022, Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 08/02/2024; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/12/2016, Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tạm giữ ngày 11/4/2025, tạm giam ngày 20/4/2025; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đào Văn D1, sinh năm 1996; chị Trương Thị Thanh H, sinh năm 1980; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 11/4/2025, tại tổ dân phố M, phường Ng, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố M, phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình), tổ công tác của Công an phường Ng (nay là phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình) tuần tra phát hiện Nguyễn Trọng L, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố V, phường T, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố V, phường Nguyễn Uý, tỉnh Ninh Bình) đang đứng một mình trong ngõ gần đường Quốc lộ 21 có biểu hiện nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra và phát hiện, thu giữ trong túi quần dài phía trước bên phải L đang mặc 02 gói nhỏ, bên ngoài bọc giấy trắng, mở ra bên trong đều chứa cục chất bột màu trắng. Tại chỗ, L khai nhận đó là 02 gói ma túy của L, mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.

Nguyễn Trọng L khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 11/4/2025, L cảm thấy thèm sử dụng ma túy nên đi bộ đến khu vực tổ dân phố V, phường T, thị xã Kim Bảng (nay là tổ dân phố V, phường Ng, tỉnh Ninh Bình) gặp bạn nghiện mới quen tên là Ph, nhà ở phường T, thị xã Kim Bảng (nay là phường Ng, tỉnh Ninh Bình) (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) và hỏi “Mày có kiếm được quả hàng để chơi không”, ý L hỏi chỗ mua ma túy. Ph trả lời: “Có, có tiền không” thì L nói có 400.000 đồng. Sau đó Ph gọi điện thoại cho ai đó rồi bảo L: “Mày đi xuống ngõ gần giếng chùa phường Ng đứng đó thì có thằng đưa cho”. L đồng ý, rồi thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết ở gần đó đi đến khu vực giếng chùa thuộc tổ dân phố M, phường Ng, thị xã Kim Bảng (nay là tổ dân phố M, phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình), rồi đi bộ vào trong ngõ thì gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng và hỏi: “Anh có hàng không để cho em hai cái", người đàn ông trả lời: “Đưa tiền đây”. L dựa 400.000 đồng cho người đàn ông và được người này đưa lại cho 02 gói nhỏ đều bọc bằng giấy màu trắng. L biết đó là ma túy nên cầm cất vào túi quần dài bên phải đang mặc, còn người đàn ông bỏ đi. Khi L định đi về thì bị lực lượng Công an phường Ng (nay là phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình) phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nhỏ, bên ngoài bọc giấy trắng, mở ra bên trong đều chứa cục chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng L. Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì kỷ hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,214g (Không phẩy hai trăm mười bốn gam) loại: Heroine (Heroin)".

Cáo trạng số 85/CT-VKS-KB ngày 18/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Ninh Bình) đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/4/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong nguyên vẹn số 214/KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01. Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, không ai có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Nam (nay là Công an tỉnh Ninh Bình), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Ninh Bình), Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 11/4/2025, tại tổ dân phố M, phường Ng, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Trọng L cất giữ trái phép trên người khối lượng 0,214 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Ng phát hiện bắt quả tang. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Ninh Bình) đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cất giấu 0,214g (Không phẩy hai trăm mười bốn gam) loại: Heroine (Heroin) để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nay lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Từ phân tích trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ tội phạm của bị cáo thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 (Một) phong bì niêm phong nguyên vẹn số 214/KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Trọng L khai nhận là do người đàn ông tên là Ph, nhà ở phường T, thị xã Kim Bảng (nay là phường Ng, tỉnh Ninh Bình) (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) giới thiệu đi mua của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam đã xác minh có đối tượng Lại Văn Ph, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố V, phường T, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố V, phường Ng, tỉnh Ninh Bình), tuy nhiên Ph hiện không có mặt tại địa phương chưa triệu tập được. Ngoài lời khai của Nguyễn Trọng L thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam (nay là Công an tỉnh Ninh Bình) tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 11/4/2025.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong nguyên vẹn số 214/KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Kim Bảng (nay là Công an tỉnh Ninh Bình) với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Ninh Bình) ngày 18/6/2025).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ