vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Ma Văn X 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Văn X và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 30-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Bích Vân và ông Vi Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vy Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vự 5 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Ma Văn X (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30 tháng 6 năm 2000 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã M, tỉnh Lạng Sơn); nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản P, xã M, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn T, sinh năm 1975 và bà Nông Thị D, sinh năm 1977; có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 2004 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không có, tiền sự: Tại Quyết định số: 10/QĐ-TA, ngày 31/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: Tại Bản án số: 54/2017/HSST, ngày 25/12/20217 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 26 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Tại Quyết định số: 89/QĐ-XPVPHC, ngày 22/5/2018 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi Hủy hoại tài sản, phạt tiền 1.750.000 đồng và tại Quyết định số: 81/QĐ-XPVPHC ngày 28/3/2022 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 3.500.000 đồng. Chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ tại Buồng tạm giữ Đồn Biên phong cửa khẩu C từ ngày 17/4/2025 đến 20/4/2025, chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L từ ngày 20/4/2025 đến nay; có mặt.

2. Chu Văn P1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13 tháng 7 năm 2001 tại xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn); nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn N, xã K, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn D1, sinh năm 1981 và bà Tô Thị M, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có, tiền án: Tại Bản án số 02/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ tại Buồng tạm giữ Đồn Biên phong cửa khẩu C từ ngày 17/4/2025 đến 20/4/2025, chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L từ ngày 20/4/2025 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn); vắng mặt.

2. Ông Lành Văn Đ, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã K, tỉnh Lạng Sơn); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 17/4/2025, Chu Văn P1 đang ở thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn C, xã M, tỉnh Lạng Sơn) thì nhận được cuộc gọi M1 từ nick "Cát BỤii” của Ma Văn X với nội dung: “Có đi làm không? nếu không đi làm thì vào nhà uống nước”, Chu Văn P1 trả lời “Vào luôn”. Sau đó, Chu Văn P1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K5-6987 di chuyển theo trục đường liên thôn hướng từ thôn C - Q - Bản G - Bản Phải đến nhà riêng của Ma Văn X tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản P, xã M, tỉnh Lạng Sơn). Tại đây do Ma Văn X không có xe máy nên đã rủ Chu Văn P1 ra thị trấn L (nay là xã L) để đi uống nước và tìm mua ma túy về để sử dụng, Chu Văn P1 đồng ý và nói với Ma Văn X là Chu Văn P1 không có tiền, Ma Văn X nói Ma Văn X có 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Chu Văn P1 điều khiển xe mô tô BKS 12K5-6987 chở Ma Văn X ngồi sau, khi đi đến Trung tâm y tế huyện L, thuộc thị trấn L (nay là xã L), Ma Văn X bảo với Chu Văn P1 “Đợi ở đây”, Chu Văn P1 xuống xe chờ ở cạnh đường. Ma Văn X tiếp tục điều khiển xe khi đến ngã tư xã L. Ma Văn X vào một quán nước ven đường ngồi uống nước mục đích là để tìm cách mua ma túy, khi Ma Văn X đang ngồi uống nước thì có một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ tên, địa chỉ) đeo khẩu trang trên mặt đến hỏi Ma Văn X có mua “đồ” không (ý là ma túy), Ma Văn X nói có, người đàn ông này hỏi mua bao nhiêu thì Ma Văn X bảo có 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng). Người đàn ông trên cầm tiền rồi đi khoảng 5 phút sau quay lại, đưa cho Ma Văn X 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy kẻ ô ly) bên trong có ma túy heroin. Ma Văn X cầm gói giấy có chứa chất ma túy trên cho vào túi quần bên trái phía sau và điều khiển xe máy đi về, khi về đến khu vực Trung tâm y tế huyện L thì dừng lại để đón Chu Văn P1. Lúc này Ma Văn X là người điều khiển xe mô tô còn Chu Văn P1 là người ngồi sau. Đến 14 giờ 30 phút, ngày 17/4/2025 khi Ma Văn X và Chu Văn P1 đi đến trục đường liên thôn T, xã T, huyện L (nay là thôn Bản L1, xã M, tỉnh Lạng Sơn) thì bị lực lượng làm nhiệm vụ thuộc Đồn Biên phòng cửa khẩu C phối hợp với Công an xã T và Đội Hải quan cửa khẩu C phát hiện bắt giữ, thu giữ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người của Ma Văn X 01 (một) gói giấy kẻ ô li màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, Ma Văn X khai nhận đó là chất ma túy (H) do Ma Văn X mua tại quán nước ở ngã ba thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã L, tỉnh Lạng Sơn) của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 170.000 đồng (một trăm bảy mươi nghìn đồng), nhằm mục đích cho bản thân sử dụng.

Thông báo kết luận giám định sơ bộ số: 01/TBGĐ, ngày 18/4/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma tuý thuộc nhóm O (heroin), có khối lượng 0,165 gam (đã trừ bì); Bản kết luận giám định số: 335/KL-KTHS, ngày 20/4/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Ma Văn X đựng trong phong bì gửi giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,165 gam (đã trừ bì).

Vật chứng chuyển theo vụ án: 01 (một) Phong bì có chữ ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT Ma Văn X (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H1; đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy (cũ) đựng 0,149 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết); 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 (xe cũ, đã qua sử dụng), số máy: 5C63098041; Số khung: RLCS5C6308Y098041; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, cũ đã qua sử dụng, kính màn hình bị vỡ; Số IMEI1: 857695057650516; Số IMEI2: 857695057650508; 01 (một) CCCD số 020201000734; Ngày cấp: 25/4/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mang tên Chu Văn P1; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 032292; Cấp ngày: 23/4/2008; Nơi cấp: Phòng C1, Công an tỉnh L, mang tên Lành Văn Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, cũ, đã qua sử dụng; Số IMEI: 353816087890705; 01 (một) thẻ ngân hàng B số: 9704187330017565833, mang tên Chu Văn P1.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSLB, ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu ở trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lành Văn Đ vắng mặt tại phiên toà, lời khai trong hồ sơ thể hiện: Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 là chiếc xe đăng ký mang tên ông, ông mua đã lâu và ông đã bán lại cho ông Hoàng Văn S với giá 2.000.000 đồng, hai bên giao tiền thì nhận Giấy đăng ký xe, không làm văn bản giấy tờ mua bán, đến nay ông đã bán chiếc mô tô xe trên và không còn liên quan gì đến chiếc xe mô tô này nữa.

Ông Hoàng Văn S vắng mặt tại phiên toà, lời khai trong hồ sơ thể hiện: Ông với Chu Văn P1 trước đây là hàng xóm của nhau, có quen biết nhau. Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 là tài sản thuộc sở hữu của ông đã mua lại của ông Lành Văn Đ, Giấy đăng ký xe mô tô vẫn mang tên ông Lành Văn Đ. Vào sáng ngày 17/4/2025, Chu Văn P1 có mượn chiếc xe mô tô của ông để làm phương tiện đi lại. Ông không biết việc Chu Văn P1 sử dụng xe vào mục đích đi mua ma túy, ông không liên quan đến hành vi phạm tội của Chu Văn P1, ông đề nghị Toà án xem xét trả lại cho ông chiếc xe mô tô nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm đối với bị cáo Chu Văn P1 điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự). Đề nghị xử phạt các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 mỗi bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ giấy cũ đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong. Đề nghị trả lại cho ông Hoàng Văn S: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 (xe cũ, đã qua sử dụng), số máy: 5C63098041; Số khung: RLCS5C6308Y098041 và 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 032292; Cấp ngày: 23/4/2008; Nơi cấp: Phòng C1, Công an tỉnh L, mang tên Lành Văn Đ. Trả lại cho bị cáo Ma Văn X: 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, cũ đã qua sử dụng, kính màn hình bị vỡ; Số IMEI1: 857695057650516; Số IMEI2: 857695057650508. Trả lại cho bị cáo Chu Văn P1: 01 (một) CCCD số 020201000734; Ngày cấp: 25/4/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mang tên Chu Văn P1; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, cũ, đã qua sử dụng; Số IMEI: 353816087890705; 01 (một) thẻ ngân hàng B số: 9704187330017565833, mang tên Chu Văn P1. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt ông Lành Văn Đ, ông Hoàng Văn S là người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hồ sơ thể hiện họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17/4/2025, tại trục đường liên thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn Bản L1, xã M, tỉnh Lạng Sơn), Ma Văn X và Chu Văn P1 đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,165 gam ma túy Heroin, mục đích là để bản thân sử dụng. Với hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Các bị cáo biết việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Nhà nước nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý nghiêm trước pháp luật.

Đây là vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đó quy định, xong về nguyên tắc mỗi đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Trong vụ án này bị cáo Ma Văn X có vai trò cao hơn là người người khởi xướng, rủ rê bị cáo Chu Văn P1 đi mua ma tuý về sử dụng, là người bỏ tiền, trực tiếp đi mua ma tuý và là người cất giữ ma tuý. Bị cáo Chu Văn P1 có vai trò thấp hơn, khi được Ma Văn X rủ đi mua ma tuý về cùng nhau sử dụng đã đồng ý và là người sử dụng xe mô tô để cùng nhau đi mua ma tuý. Khi đang trên đường về thì các bị cáo bị cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang.

Xét về nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, bị lệ thuộc vào chất ma túy là người có nhân thân không tốt. Bị cáo Ma Văn X đã có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 10/QĐ-TA ngày 31/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính) và nhân thân: Tại bản án số 54/2017/HSST ngày 25/12/20217 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 26 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã được xoá án tích). Tại Quyết định số 89/QĐ-XPVPHC ngày 22/5/2018 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi Hủy hoại tài sản, phạt tiền 1.750.000 đồng và Quyết định số 81/QĐ-XPVPHC ngày 28/3/2022 của Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 3.500.000 đồng (đều đã chấp hành xong tiền phạt).

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Bị cáo Chu Văn P1 có 01 tiền án: Tại Bản án số: 02/2022/HS-ST, ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý chưa được xoá án tích, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ma Văn X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần cân nhắc, xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo tốt.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Ma Văn X vào ngày 17/4/2025 tại khu vực quán nước tại xã L, tỉnh Lạng Sơn do Ma Văn X không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ. Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 là tài sản thuộc sở hữu của ông Hoàng Văn S. Vào sáng ngày 17/4/2025, Chu Văn P1 có mượn chiếc xe mô tô nêu trên của ông S để làm phương tiện đi lại. Căn cứ kết quả điều tra, xác minh cho thấy ông Hoàng Văn S không biết việc Chu Văn P1 sử dụng xe vào mục đích đi mua ma túy. Không có căn cứ xác định ông Hoàng Văn S có liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) Phong bì có chữ ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT Ma Văn X (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H1; Đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy (cũ) đựng 0,149 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 (xe cũ, đã qua sử dụng), số máy: 5C63098041; Số khung: RLCS5C6308Y098041 và 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 032292; Cấp ngày: 23/4/2008; Nơi cấp: Phòng C1, Công an tỉnh L, mang tên Lành Văn Đ. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, cũ đã qua sử dụng, kính màn hình bị vỡ; Số IMEI1: 857695057650516; Số IMEI2: 857695057650508 thu giữ của bị cáo Ma Văn X và 01 (một) CCCD số 020201000734; Ngày cấp: 25/4/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mang tên Chu Văn P1; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, cũ, đã qua sử dụng; Số IMEI: 353816087890705 thu giữ của Chu Văn P1; 01 (một) thẻ ngân hàng B số: 9704187330017565833, mang tên Chu Văn P1. Các vật chứng trên xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cần tuyên trả cho ông Hoàng Văn S và các bị cáo.

Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa đối với các bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ma Văn X.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn P1.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Ma Văn X 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025.

2.2. Xử phạt bị cáo Chu Văn P1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) Phong bì có chữ ĐỒN BIÊN PHÒNG CỬA KHẨU CHI MA QT Ma Văn X (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H1; Đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy (cũ) đựng 0,149 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết).

3.2. Trả lại cho ông Hoàng Văn S: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen-bạc, biển kiểm soát: 12K5-6987 (xe cũ, đã qua sử dụng), số máy: 5C63098041; Số khung: RLCS5C6308Y098041 và 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 032292; Cấp ngày: 23/4/2008; Nơi cấp: Phòng C1, Công an tỉnh L, mang tên Lành Văn Đ.

3.3. Trả lại cho bị cáo Ma Văn X: 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, cũ đã qua sử dụng, kính màn hình bị vỡ; Số IMEI1: 857695057650516; Số IMEI2: 857695057650508.

3.4. Trả lại cho bị cáo Chu Văn P1: 01 (một) CCCD số 020201000734; Ngày cấp: 25/4/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mang tên Chu Văn P1; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 7 Plus màu vàng, cũ, đã qua sử dụng; Số IMEI: 353816087890705; 01 (một) thẻ ngân hàng B số: 9704187330017565833, mang tên Chu Văn P1.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/7/2025.

4. Về án phí: Các bị cáo Ma Văn X, Chu Văn P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ