- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Trọng H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 15-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Bà Đoàn Sơn Lâm.
2/ Ông Ngô Hoàng Bá.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Lý Trọng H; sinh ngày 09/5/1991; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú: Số I Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ( Nay là: Số I Khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Lý Hồng Q; sinh năm 1962; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm: 1966; anh chị ruột: có 01 người, sinh năm 2000; vợ: Huỳnh Thị Kim A, sinh năm 1989 (không có đăng ký kết hôn); con có 01 người sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Lý Hồng Q, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Số I Khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai.(Có mặt)
2/ Hồ Văn N, sinh năm 2000. (Xin vắng mặt)
3/ Mai Ngọc K, sinh năm 1970. (Xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, bị cáo H điều khiển xe mô tô biển số 60F3-559.39 đi từ huyện L, tỉnh Đồng Tháp đến xã V, huyện V để mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực xã V thì H điều khiển xe đi đến nhà của Mai Ngọc K và Hồ Văn N trong Kênh H, thuộc ấp V, xã V để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, lúc này N đang ngồi trước cửa nhà gặp H hỏi mua ma túy, Ngọc định đi vào nhà kêu bà K ra bán ma túy thì thấy bà K từ trong nhà đi ra đem ma túy giao cho H. Sau khi mua được ma túy thì H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô định đem về nhà để sử dụng, khi đi đến Quốc lộ H thuộc ấp V, xã V thì bị lực lượng công an phát hiện và thu giữ 01 gói nilon không màu hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu (nghi vấn là chất ma túy).
Ngoài ra, trước đó vào khoảng cuối tháng 8/2024 H đã mua ma túy của bà K với giá 200.000 đồng để đem về sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết.
Tại Kết luận giám định số: 43/KL-KTHS, ngày 17/01/2025 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon không màu, nẹp miệng, viền xanh, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2003 gam.
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSVT ngày 17/6/2025 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ ( Nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Lý Trọng H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lý Trọng H mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định hoàn cảnh khó khăn nên miễn cho bị cáo.
+Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam được niêm phong số 43/KL-KTHS, ngày 17/01/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố C; 01 nỏ thủy tinh; 01 hột quẹt ga.
Trả lại cho ông Lý Hồng Q mô tô biển số 60F3-559.39, hiệu Vario, màu bạc đen, số khung: MHIKF4129NK464229, số máy KF41E2468137 là xe của ông Q nhờ bị cáo đứng tên giùm do về giấy tờ xe ông Q không am hiểu và không biết bị cáo dùng xe trong việc phạm tội.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu trắng, ốp lưng màu đen, số sêri: D49WPHF7QN, đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tôi.
Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 đồng dùng để sử dụng cá nhân không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lý Trọng H có hành vi cất giấu chất ma túy với khối lượng là 0,2003 gam loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng cho bản thân đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c - khoản 1 - Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng của bị cáo gây tác hại trước hết cho chính bị cáo, sau đó là gia đình bị cáo và xã hội. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc của bản thân người nghiện và gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu ngày 08/5/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội cướp giật tài sản, ngày 22/7/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 28/02/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật tài sản tuy nhiên đã được xáo án tích .
- Tình tiết tăng nặng không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Do có hoàn cảnh khó khăn nên miễn cho bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam được niêm phong số 43/KL-KTHS, ngày 17/01/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố C. 01 nỏ thủy tinh; 01 hột quẹt ga là vật chứng liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với mô tô biển số 60F3-559.39, hiệu Vario, màu bạc đen, số khung: MHIKF4129NK464229, số máy KF41E2468137 là xe của ông Q bỏ tiền ra mua và nhờ bị cáo đứng tên hộ do ông Q không rành giấy tờ và lúc bị cáo lấy xe dùng vào việc phạm tội ông Q không biết nên trả lại cho ông Q là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu trắng, ốp lưng màu đen, số seeerri: D49WPHF7QN, đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại là phù hợp
Đối với số tiền 300.000 đồng dùng để sử dụng cá nhân không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại là phù hợp. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Đối với Mai Ngọc K và Hồ Văn N bán ma túy cho H 02 lần. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma túy và xử lý trong một vụ án khác là phù hợp
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Lý Trọng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Trọng H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Lý Trọng H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1366 gam được niêm phong số 43/KL-KTHS, ngày 17/01/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố C, 01 nỏ thủy tinh; 01 hột quẹt ga.
Trả lại cho ông Lý Hồng Q xe mô tô biển số 60F3-559.39, hiệu Vario, màu bạc đen, số khung: MHIKF4129NK464229, số máy KF41E2468137.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu trắng, ốp lưng màu đen, số sêri: D49WPHF7QN, đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tội
Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 đồng dùng để sử dụng cá nhân không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Theo Quyết định chuyển vật chứng số:35/QĐ-VKSVT ngày 17/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lý Trọng H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 4- Cần Thơ - CAND thành phố Cần Thơ; - Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ; - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4 - Cần Thơ - Bị cáo; - Đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Nhật Trường |