- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG, TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2025/HS-ST Ngày: 16 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hoàng;
Ông Phan Vũ Anh Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đông – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Lục Văn P, sinh ngày: 21/5/1993, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: Thôn X, xã E.P, huyện E.K, tỉnh Đ.L (Nay là xã Ea Păl, tỉnh Đắk Lắk); nơi ở hiện nay: Thôn Y, xã E.L, huyện E.S, tỉnh Đ.L (Nay là xã Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn M và bà Nông Thị T; chưa có vợ, con; tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Ngày 09/6/2021, Lục Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắm tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST.
+ Ngày 31/7/2023, Lục Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST.
Nhân thân:
+ Ngày 25/7/2016, bị TAND huyện Ea Kar áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng.
+ Ngày 20/8/2019, bị TAND huyện Ea Kar áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/12/2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSLG-HS, ngày 27/5/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng) xác định: Vào lúc 15 giờ 40 phút, ngày 27/12/2024, tại tuyến đường Lê Lợi, thuộc khu phố 1, phường Phước Hội, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma Túy Công an thị xã La Gi và Công an phường Phước Hội, thị xã La Gi phát hiện, bắt quả tang Lục Văn P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong ngăn nhỏ ngoài cùng túi da màu đen mà P đeo trên người, 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (3,3cm x 2,8cm) được hàn kín, bên trong có chứa chất dạng rắn, màu trắng và trong ngăn lóng của túi da 01 bơm kim tiêm có nắp màu đỏ kích thước chiều dài 11,2cm.
Tại Kết luận giám định số 1688/KL-KTHS, ngày 03/01/2025, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,4145 gram là heroine, tên khoa học là Diacetymorphine.
Quá trình điều tra xác định vào khoảng 15 giờ ngày 27/12/2024, P bắt xe ôm từ khu vực chợ La Gi, thuộc phường Phước Hội đến xóm Sình, thuộc phường Bình Tân để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, P đi bộ vào một con hẻm, gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua của người này với số tiền 300.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, Plấy một ít bỏ vào bơm kim tiêm đã chuẩn bị trước để sử dụng, phần ma túy còn lại Pcất giấu vào túi đeo chéo màu đen của mình, rồi quay lại đón xe ôm đi đến khu vực chợ La Gi, thuộc phường Phước Hội. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thị xã La Gi và Công an phường Phước Hội bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Ngày 09/6/2021, Lục Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắm tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST, khi chưa được xóa án tích, ngày 31/7/2023, Lục Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST, thuộc trường hợp tái phạm. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Pchưa được xóa án tích đối với 02 bản án trên.
Với những tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án để xét xử đối với Lục Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lục Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù giam. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lục Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình, do có nhu cầu sử dụng ma túy, thông qua người khác hướng dẫn, vào chiều ngày 27/12/2024, Pđón xe ôm đi đến khu vực xóm Sình, thuộc phường Bình Tân mua ma túy để sử dụng, bị cáo không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho mình. Sau khi mua ma túy, bị cáo lấy một phần ra và sử dụng, phần còn lại bị cáo cất giấu vào túi đeo chéo của mình cùng với bơm kim tiêm. Bị cáo trình bày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của Bản án hình sự số 20/2021/HS-ST, ngày 09/6/2021, của TAND huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 01/5/2022, bị cáo thống nhất với việc truy tố của VKSND thị xã La Gi (Nay là VKSND khu vực 15 – Lâm Đồng).
Lời nói sau cùng, bị cáo P nhận thức hành vi mà bị cáo đã thực hiện là sai trái, bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có thể quay trởi lại với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lục Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy, đủ căn cứ để xác định: Vì muốn có ma túy để sử dụng, vào khoảng 15 giờ ngày 27/12/2024, Pđã thuê xe ôm chở đến khu vực xóm Sình, phường Bình Tân, thị xã La Gi (nay là phường La Gi, tỉnh Lâm Đồng), sau khi mua ma túy từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, Psử dụng tại chỗ một phần, phần còn lại Pcất giấu cùng bơm kim tiêm vào túi đeo chéo của mình rồi đón xe ôm về lại khu vực phường Phước Hội, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (nay là phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng) thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thị xã La Gi và Công an phường Phước Hội bắt quả tang, thu giữ 01 túi nylon màu trắng, trong suốt, kích thước 3,3cm x 2,8cm, bên trong có chứa chất dạng rắn, màu trắng, 01 bơm kim tiêm có nắp màu đỏ, kích thước chiều ngang khoảng 11,2cm. Tại Kết luận giám định số 1688/KL-KTHS, ngày 03/01/2025, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận chất rắn màu trắng là heroin, có khối lượng là 0,4145 gram.
Lục Văn P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ heroin là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, nhưng vẫn cố ý cất giấu 0,4145 gram trong người nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Pđã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Theo hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 09/6/2021, Pbị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/7/2023, Ptiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do Pthực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý khi chưa được xóa án tích nên bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, ngày 27/12/2024, Pvẫn chưa được xóa án tích đối với 02 bản án nêu trên, nhưng Ptiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng) truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm b khoản 2 Điều 53, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, là có căn cứ.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2023/HS-ST, ngày 31/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhận định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại Danh sách thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021 – 2025 (Kèm theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc), thôn X, xã E.P (nơi bị cáo đăng ký thường trú) và thôn Y, xã E.L (nơi bị cáo sinh sống) không nằm trong danh sách này, do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từng 02 lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm, phương thức thực hiện và hậu quả của tội phạm, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. Ngoài ra, bị cáo dương tính với Heroin theo phiếu xét nghiệp nước tiểu của Bệnh viện Đa khoa khu vực La Gi. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa, từ 06 năm tù đến 07 năm tù, là phù hợp.
Về vật chứng là: 01 (một) gói ny lon màu trắng, kích thước khoảng 3,3cm x 2,8cm đã cắt lấy mẫu và 0,3596 gram mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 1688 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và 01 (một) bơm kim tiêm có nắp màu đỏ, kích thước chiều dài khoảng 11,2cm, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do được xác định là có tội nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn P07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 27/12/2024).
+ Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ny lon màu trắng, kích thước khoảng 3,3cm x 2,8cm đã cắt lấy mẫu và 0,3596 gram mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì số 1688 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận và 01 (một) bơm kim tiêm có nắp màu đỏ, kích thước chiều dài khoảng 11,2cm (Vật chứng được liệt kê trên đây hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 – Lâm Đồng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 29/5/2025)
+ Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sư, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lục Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - CQCSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng; - TP phụ trách THAHS; - PTTG KV số 2, Trại TG số 3 Công an tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu: VP; HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Đình Phú |