- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 06 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển
Ông Phan Duy Lục
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Lê Nhật Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thái D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 01 năm 1985 tại phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: Tổ Đ, khu T, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Từ T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01. Ngày 17/3/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 23/8/2024, D chấp hành xong; nhân thân: 04. Cụ thể:
+ Tại Bản án số 102/2008/HSST ngày 20/5/2008 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt Nguyễn Thái D 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 11/10/2009, D chấp hành xong hình phạt tù, án phí chấp hành xong tháng 8/2009. Hiện đã được xoá án tích.
+ Tại Bản án số 111/2010/HSST ngày 23/6/2010 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt Nguyễn Thái D 39 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 05/03/2013, D chấp hành xong hình phạt tù, án phí chấp hành xong tháng 9/2010. Hiện đã được xoá án tích.
+ Tại Bản án số 03/2014/HSST ngày 14/01/2014 của Toà án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tuyên phạt Nguyễn Thái D 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 14/9/2016, D chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí. Hiện đã được xoá án tích.
+ Tại Bản án số 194/2018/HSST ngày 22/5/2018 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 09/9/2022, D chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí. Hiện đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 25/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân Th, sinh năm 2000; Trú tại: Xã Tân Tiến, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 19/10/2024, tại khu vực đường nội đồng xứ đồng CN thuộc thôn ĐM, xã YL, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện VT đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thái D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ: Thu tại tay trái của D đang cầm 01 bơm kim tiêm bên trong chứa dung dịch không màu, D khai nhận đó là bơm kim tiêm chứa ma túy Heroine đã được pha loãng với nước cất mà D chưa kịp sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1. Thu tại vị trí D đang ngồi 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy (mặt bên ngoài màu trắng, mặt bên trong màu vàng) bên trong chứa chất bột, cục màu trắng, D khai nhận đó là gói ma túy heroine của D để ở đó để sau khi sử dụng ma túy xong, D sẽ cầm về sử dụng tiếp cho bản thân, 01 vỏ lọ nước cất và 01 vỏ bao gói xi lanh đã bị xé rách. Tang vật là gói nhỏ được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2;
Tạm giữ của D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha đã cũ gắn biển kiểm soát 19B1-491.21. Tang vật được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 19/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện VT đã ra Quyết định trưng cầu số 2156/QĐ-ĐCSHSKTMT trưng cầu giám định tang vật thu giữ nêu trên gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định.
Ngày 23/10/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản kết luận giám định số 3034/KL-KTHS, xác định:
“Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1202g (Không phảy một hai không hai gam, không kể bao bì), loại Heroine (Heroin);
Dung dịch không màu trong xi lanh có thể tích 1,5ml (một phảy năm mililit) của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định chứa chất ma túy, loại Heroine (Heroin). Khối lượng chất ma túy có trong 1,5ml dung dịch không màu là 0,0009g;
Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu, gồm: Al = xi lanh nhựa đã sử dụng hết mẫu, A2 = 0,0850 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/10/2024, Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn Thái D, D đồng ý với nội dung của kết luận và không có ý kiến gì.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Thái D khai nhận: Khoảng gần 11 giờ ngày 19/10/2024, D đang ở nhà tại phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy Heroine. Do biết một người đàn ông tên là H khoảng 35 tuổi nhà ở xã YL mua hộ được ma túy Heroine nên D đã một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha đã cũ gắn biển số 19B1-491.21 và cầm theo số tiền 310.000 đồng đi đến thôn ĐM, xã YL để nhờ H mua hộ ma túy. Trên đường đi, D vào một hiệu thuốc tân dược ở ven đường thành phố Việt Trì mua 01 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất với giá 10.000 đồng. Khi D đi đến khu vực ngã ba đường nội đồng thuộc thôn ĐM, xã YL thì gặp H đang đứng một mình ở ven đường. Tại đây, D đưa cho H 300.000 đồng để nhờ mua hộ ma túy Heroine. H đồng ý và cầm tiền D đưa rồi một mình điều khiển xe đạp điện đi về phía khu dân cư thôn ĐM, xã YL; còn D điều khiển xe mô tô đi về phía khu vực ngôi mộ cách ngã ba cánh đồng nêu trên khoảng 40m để đợi H ở đó. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, H quay lại và đưa cho D 01 gói ma túy Heroine được bọc bên ngoài bằng giấy (mặt bên ngoài màu trắng, mặt bên trong màu vàng). D cầm gói ma túy đó ở tay rồi đem vào trong khu vực ngôi mộ để sử dụng. Sau đó, H đi đâu thì D không rõ. Tại đây, D bóc gói ma túy ra, đổ một ít ma túy vào trong bơm kim tiêm rồi bóc lọ nước cất, lấy bơm kim tiêm hút nước cất vào trong pha với ma túy rồi lắc bơm kim tiêm chứa ma túy để ma túy hòa tan với nước cất. Khi D chưa kịp sử dụng ma túy bằng hình thức chích vào cơ thể thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái D từ 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù đến 2 (hai) năm 9 (chín) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái D không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng anh Nguyễn Xuân Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình làm việc tại cơ quan điều tra đã trình bày việc Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thái D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bị cáo trình bày là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 19/10/2024, tại khu vực đường nội đồng xứ đồng CN thuộc thôn ĐM, xã YL , huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện VT đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thái D có hành vi tàng trữ trái phép 0,1211g ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 bơm kim tiêm bên trong chứa 0,0009g ma túy Heroine; 01 gói nhỏ chứa 0,1202g ma túy Heroine, 01 vỏ lọ nước cất, 01 vỏ bao gói xi lanh đã xé rách; tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 19B1-491.21 đã cũ.
Hành vi của Nguyễn Thái D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trước khi phạm tội, bị cáo có 01 tiền sự, bị Tòa án nhân dân thành phố VY quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng; bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng 03 lần bị Tòa án tuyên phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 01 lần bị tuyên phạt về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; mẹ đẻ của bị cáo là bà Nguyễn Thị Đ là thanh niên xung phong thương tật hạng 4/4, có công với cách mạng, hiện đang được hưởng chính sách như thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã mua hộ ma túy cho D có đặc điểm khoảng 35 tuổi, nhà ở xã YL , Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an xã YL rà soát, xác minh nhưng chưa xác định được người đàn ông đó là ai, ở đâu. Đối với người phụ nữ ở cửa hàng thuốc tân dược tại thành phố Việt Trì đã bán cho D 01 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất, D không biết người này là ai, ở đâu và không nhớ địa chỉ của cửa hàng thuốc tân dược. Do vậy, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật A1= xi lanh nhựa đã sử dụng hết mẫu; A2=0,0850 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 vỏ lọ nước cất và 01 vỏ bao gói xi lanh đã bị xé rách không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave alpha đã cũ gắn biển kiểm soát 19B1-491.21, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ (là mẹ đẻ của D). Ngày 19/10/2024, D đã sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi mua ma túy, bà Điểm không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của D. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Điểm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thái D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái D 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm A1= xi lanh nhựa đã sử dụng hết mẫu; A2=0,0850 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2832”; 01 vỏ lọ nước cất và 01 vỏ bao gói xi lanh đã bị xé rách.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện VT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện VT).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thái D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng THAHS Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện VT; - Phòng HS nghiệp vụ Công an huyện VT; - Chi cục THADS huyện VT; - UBND phường M; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Liên |