vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thế L, Phạm Ranh T, Pham Văn Q - MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình s cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HU N TH TH
TỈNH TH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày: 17-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM

T

N NH N D N HU N TH TH , TỈNH TH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.

Các i thẩm nh n d n: Ông Phạm Hữu Triều và ông Nguyễn Hữu Khuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Th ký Tòa án nhân dân huyện Thái Th y t nh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Tráng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại tr s Tòa án nhân dân huyện Thái Th y t nh Thái Bình, t s th m công khai v án hình s th lý số 174/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đ a v án ra t

số 01/2025 QĐ ST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối v i:

1. Bị cáo PHẠM THẾ L sinh ngày 02/01/19xx, tại t nh Thái Bình; n i c trú: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động t do; gi i tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: l p 10/12; con ông Phạm Văn T sinh năm 19xx và bà Phạm Thị C sinh năm 19xx; đều trú tại: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình.

- Tiền án, tiền s : không;

- Nhân thân: Từ tháng 9 2014 đến tháng 01 2016 tham gia nghĩa v Q s đóng Q tại Lữ Đoàn 242 Q khu 3;

- Bị tạm giữ từ ngày 26/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thái Bình; có mặt.

2. Bị cáo PHẠM RANH T sinh ngày 23/8/19xx, tại t nh Thái Bình; n i c trú: thôn H, xã T, huyện T t nh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động t do; gi i tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: l p 9/12; con ông Phạm Văn R sinh năm 19xx và bà Phạm Thị C sinh năm 19xx; đều trú tại: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình.

- Tiền án:

+ Bản án số 131 2018 HSST ngày 28 8 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái ph p chất ma túy thi hành xong hình phạt ngày 06/5/2019;

+ Bản án số 04 2020 HSST ngày 16 01 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Th y t nh Thái Bình phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thi hành ong hình phạt ngày 17 3 2021;

+ Bản án số 69 2021 HSST ngày 04 8 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thái Th y t nh Thái Bình phạt 02 năm 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; thi hành ong hình phạt tù ngày 05 01 2024.

- Tiền s : không

- Bị tạm giữ từ ngày 26/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thái Bình; có mặt.

3. Bị cáo PHẠM VĂN Q sinh ngày 19/11/19xx, tại t nh Thái Bình; n i c trú: thôn H, xã T, huyện T t nh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động t do; gi i tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: l p 9/12; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị C sinh năm 19xx; trú tại: thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình; vợ là Lê Thị T sinh năm 19xx đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2008.

- Tiền án tiền s : không.

- Bị tạm giữ từ ngày 26/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thái Bình; có mặt.

4. Người chứng kiến:

- Bà Phạm Thị C sinh năm 19xx; trú tại: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình; có mặt.

- Ông Phạm Trung T sinh năm 19xx; trú tại: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình; vắng mặt.

- Ông Phạm Văn L sinh năm 19xx; trú tại: thôn H, xã T huyện T t nh Thái Bình; vắng mặt.

NỘ DUNG V N:

Theo các tài li u c trong hồ s và di n iến tại phiên t a, nội dung v án đư c t m t t như sau:

Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 26 9 2024 Phạm Văn Q gọi đến số điện thoại 0965590104 của Phạm Thế L để hỏi mua ma túy. Q bảo L: "Có ma túy không, bán cho anh 200” ý muốn hỏi mua của L 200.000 đồng tiền ma túy loại Heroine. L hiểu ý trả lời: "Ra c a sau nhà em" do nhà L có 01 c a gần phòng ngủ của L và thông ra ngõ sau nhà. Q đi bộ từ nhà đến c a sau nhà L gõ c a L m c a ra Q đ a cho L 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) L nhận tiền và đ a cho Q 01 gói ma túy loại Heroine. Q nhận gói ma túy cất giấu trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi bộ vê nhà. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, do có nhu cầu s d ng ma túy Q đi bộ ra ngoài để tìm chỗ s d ng ma túý thì bị L l ợng Công an huyện Thái Thuy tiến hành kiểm tra. Tr c s chứng kiến của ông Phạm Trung T và ông Phạm Văn L, L c l ợng Công an tiến hành kiểm tra và phát hiện tại túi quần bên phải phía sau quần Q đang mặc 01 gói ma túy Q khai nhận đó là gói ma túy loại Heroine của Q cất giấu đề s d ng cho bản thân; ngoài ra không phát hiện thu giữ gì khác. Tổ công tác tiến hành niêm phong 01 gói đ ợc gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ m ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng c c thu của Q trong 01 phong bì rồi dán kín trên m p dán có chữ ký của Q và những ng ời tham gia niêm phong. Sau đó, tổ công tác đ a Q cùng vật chứng về tr s Công an xã Thuy Bình để làm việc. Quá trình làm việc, Q khai nhận đã mua ma túy của Phạm Thế L. C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y triệu tập L để làm việc. Tại c quan điều tra L khai ngoài bán 01 gói ma túy cho Q chiều ngày 26/9/2024, L còn bán 01 gói ma túy cho Phạm Ranh T.

Phạm Thế L là đối t ợng s d ng ma túy loại Heroine. L nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời ngày 25/9/2024 L s d ng điện thoại di động nhắn tin bằng ứng d ng messenger cho T cả hai đã bàn bạc chung tiền v i nhau đề mua ma tuý Heroine tại cầu Đá thành phố Nam Định. T góp 900.000 đồng L góp 3.100.000 đồng. Sau khi thống nhất T đi xe mô tô YAMAHA SIRIUS mang biển kiểm soát 52V6 - 269.62 cùng L cả hai đi từ nhà L đến khu v c cầu Đá, thành phố Nam Định. T uống e vào quán n c ven đ ờng L điều khiển e đi một mình tìm gặp và mua đ ợc 01 túi ma túy loại Heroine v i giá 4.000.000 đồng của một ng ời ph nữ L không biết tên tuổi địa ch của ng ời ph nữ này. Sau đó, L cùng T đi về nhà của L tại thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Thuy t nh Thái Bình. Cả hai đi vào trong phòng ngủ tại nhà của L ngồi gi ờng phân chia số ma túy trên. L chia cho T 1 5 số ma túy L và T góp tiền mua T mang số ma tuý đ ợc chia về nhà để s d ng L cất số ma tuý của L vào hộp thuốc lá Thăng Long vỏ bằng kim loại rồi cất uống d i chiếu đầu gi ờng. Quá trình làm việc L khai nhận khoảng 15 giờ ngày 26 9/2024, T s d ng điện thoại vào ứng d ng messenger nhắn tin cho L hỏi mua ma túy, L đồng ý và hẹn T đến ngõ gần chợ Hạ Tập thuộc thôn Hạ Tập ã Thuy Bình huyện Thái Thuy t nh Thái Bình. L đi bộ đến ngõ gần chợ Hạ Tập thì gặp T đang đi xe mô tô YAMAHA SIRIUS mang BKS 59V6-269.62 đi ng ợc chiều T đi lại gần L bán cho T 01 gói ma túy loại Heroine đ ợc gói bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng v i giá 200.000 đồng sau đó T và L cùng nhau đi về.

Ngày 26/9/2024, C quan CSĐT Công an huyện Thái Th y khám t kh n cấp chỗ của Phạm Thế L tại thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình phát hiện thu giữ trên mặt chiếu đầu gi ờng trong phòng ngủ của L 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất bột màu trắng dạng c c; 01 ví da màu đen bên trong có 400.000 đồng.

Ngày 26/09/2024, C quan CSĐT Công an huyện Thái Th y khám t kh n cấp chỗ của Phạm Ranh T tại thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình phát hiện thu giữ tại sân tr c c a nhà 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS mang biển kiểm soát 59V2-269.62; trên mặt chiếu đầu gi ờng trong phòng ngủ của T 01 gói đ ợc gói bằng giấy nhiều màu sắc bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng c c; 01 điện thoại di động VIVO vỏ màu anh đã qua s d ng.

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y t nh Thái Bình ra lệnh khám t kh n cấp số 532 ngày 26 9 2024 khám t chỗ của Phạm Văn Q tại thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình phát hiện và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL vỏ màu đen trắng đã cũ.

- Bản kết luận giám định số 1463 KL-KTHS ngày 30 9 2024 của Phòng Kỹ thuật Hình s Công an t nh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong phong bì Mẫu số A1 gửi giám định là ma túy, loại eroin ( eroine), có khối lượng 0,1700 gam (Không phẩy m t nghìn bảy trăm gam); Vật chứng trong phong bì Mẫu số A2 gửi giám định là ma túy, loại eroin ( eroine), có khối lượng 1,9855 gam (M t phẩy chín nghìn tám trăm năm mươi lăm gam); Vật chứng trong phong bì Mẫu số A4 gửi giám định là ma túy, loại eroin ( eroine), có khối lượng 0,1858 gam (Không phẩy m t nghìn tám trăm năm mươi tám gam); eroin ( eroine) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại B luật ình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. eroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ - CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ (Bút lục số 167 đến 168);

- Bản kết luận giám định số 1548 KL-KTHS ngày 17 10 2024 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an t nh Thái Bình kết luận: 04 tờ tiền cần giám định là tiền thật (Bút lục số 172);

- Bản kết luận giám định số 1016 KL-KTHS ngày 17 06 2024 Phòng Kỹ thuật hình s Công an t nh Thái Bình kết luận: hàng chữ chữ số đóng trên khung e và thân máy e mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 59V2 - 269.62 không bị t y óa s a chữa đ c lại; chữ chữ số nguyên thủy. Hàng chữ chữ số khung: RLCS5C6K0FY187616. Hàng chữ chữ số máy: 5C6K187476 (Bút lục số 175);

Cáo trạng số 06/CT-VKSTT ngày 23/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y đã truy tố bị cáo Phạm Thế L về tội “Mua bán trái ph p chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình s ; bị cáo Phạm Ranh T về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình s ; bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình s .

Đối v i hành vi s d ng trái ph p chất ma túy ngày 25 9 2024 của Phạm Ranh T tại nhà của T và của Phạm Thế L tại nhà của L Công an huyện Thái Th y đã ra Quyết định phạt vi phạm hành chính đối v i T và L theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144 2021 NĐ-CP.

Về nguồn gốc ma túy: Phạm Thế L khai mua của một ph nữ khoảng 40 tuổi không biết tên địa ch đặc điểm nhận dạng t nh Nam Định nên C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y không có căn cứ để điều tra ác minh.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thế L Phạm Ranh T Phạm Văn Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng ng ời tiến hành tố t ng; các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y t nh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối v i bị cáo; đề nghị Hội đồng t :

+ Tuyên bố bị cáo Phạm Thế L phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”; các bị cáo Phạm Ranh T và bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý”.

+ Áp d ng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình s

phạt bị cáo Phạm Thế L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26 9 2024 và phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

+ Áp d ng điểm o khoản 2 và khoản 5 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình s ; phạt bị cáo Phạm Ranh T 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/9/2024 và phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

+ Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình s ; phạt bị cáo Phạm Văn Q 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26 9 2024. Không áp d ng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

+ Áp d ng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s : tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối l ợng ma túy còn lại sau khi giám định cùng bao gói; 01 ví da màu đen; 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại vỏ màu vàng; 01 vỏ thuốc lá Thăng Long bằng giấy vỏ màu anh. Tịch thu sung vào ngân sách nhà n c 03 chiếc điện thoại thu giữ của Phạm Thế L Phạm Ranh T Phạm Văn Q và 400.000 đồng của Phạm Thế L bán ma túy cho Phạm Ranh T và Phạm Văn Q mà có.

+ Các bị cáo phải chịu án phí hình s s th m theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận.

Bị cáo L nói lời sau cùng: bị cáo nhận tội bi cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái bị cáo đề nghị Hội đồng t giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo T nói lời sau cùng: bị cáo nhận tội bị cáo đề nghị Hội đồng t

giảm nhẹ hình phạt bị cáo hứa sẽ quyết tâm từ bỏ ma tuý.

Bị cáo Q nói lời sau cùng: bị cáo nhận tội bi cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái bị cáo đề nghị Hội đồng t giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên c sở nội dung v án, căn cứ vào các tài li u trong hồ s v án đã đư c tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định tố t ng hành vi tố t ng: hành vi quyết định tố t ng của C quan điều tra Công an huyện Thái Th y Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền trình t thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình s ; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của c quan tiến hành tố t ng ng ời tiến hành tố t ng; do đó, các hành vi và quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng ng ời tiến hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Thế L Phạm Ranh T Phạm Văn Q: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa không có s thay đổi so v i lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra truy tố; các bị cáo đã thừa nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối v i bị cáo Phạm Thế L về tội Mua bán trái ph p chất ma tuý bị cáo Phạm Ranh T và bị cáo Phạm Văn Q về tội Tàng trữ trái ph p chất ma túy là đúng. Lời khai của các bị cáo phù hợp v i các tài liệu chứng cứ có trong hồ s v án gồm: biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật tàu liệu do C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y lập ngày 26 9 2024; biên bản khám t n i của Phạm Văn Q Phạm Thế L Phạm Ranh T do C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y lập ngày 26/9/2024; Biên bản làm việc kiểm tra khai thác dữ liệu điện thoại di động của Phạm Văn Q Phạm Thế L Phạm Ranh T; ảnh ch p màn hình cuộc gọi điện thoại ảnh ch p tin nhắn; Bản kết luận giám định số 1463 KL-KTHS ngày 30/9/2024, Bản kết luận giám định số 1548 KL-KTHS ngày 17/10/2024, Bản kết luận giám định số 1016 KL-KTHS ngày 17 6 2024 của Phòng Kỹ thuật Hình s Công an t nh Thái Bình; Biên bản th c nghiệm điều tra s đồ hiện T bản ảnh do C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Th y lập ngày 25 10 2024; biên bản ghi lời khai của những ng ời chứng kiến là bà Phạm Thị Chuyền ông Phạm Văn L ông Phạm Trung T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s v án.

[3] Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng t có đủ c s để kết luận: khoảng 09 giờ ngày 26 9 2024 tại khu v c sau nhà Phạm Thế L thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình Phạm Thế L có hành vi bán trái phép cho Phạm Văn Q 01 gói ma túy loại Heroine có khối l ợng 0 1700 gam v i giá 200.000 đồng Q mua ma túy về để s d ng cho bản thân. Đến 15 giờ 15 phút ngày 26/9/2024, tại đ ờng tr c thôn Hạ Tập ã Th y Bình huyện Thái Th y t nh Thái Bình, khi Q đang đi tìm chỗ để s d ng bị Công an huyện Thái Th y phát hiện bắt quả tang. Ngoài bán ma túy cho Phạm Văn Q khoảng 15 giờ cùng ngày 26 9 2024 tại khu v c sau nhà Phạm Thế L, L còn có hành vi bán 01 gói ma túy loại Heroine có khối l ợng 0 1858 gam cho Phạm Ranh T v i giá 200.000 đồng T mua v i m c đích để s d ng cho bản thân. Ngoài ra, L còn có hành vi cất giấu trên mặt chiếu đầu gi ờng trong phòng ngủ 01 túi ma túy loại Heroin có khối l ợng 1 9855 gam m c đích để bán. Tổng khối l ợng ma túy L đã bán và cất giấu để bán là 2,3413 gam ma túy loại Heroine.

[4] Các bị cáo đều là ng ời có năng L trách nhiệm hình s ; biết rõ ma túy là loại chất gây nghiện do nhà n c độc quyền quản lý; tác hại của ma túy là vô cùng nghiêm trọng, nó gây ra những tổn hại về sức khỏe kinh tế cho chính ng ời s d ng và toàn ã hội là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình s nh ng các bị cáo vẫn cố ý th c hiện. Bị cáo L vì không chịu làm ăn l ng thiện hám lợi bất chính nên th c hiện hành vi Mua bán trái ph p chất ma túy; bị cáo T và Q do thỏa mãn thói h tật ấu các bị cáo đã mua ma túy tàng trữ trái ph p chất ma túy để s d ng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo đã âm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà n c về chất ma túy; gây ảnh h ng ấu đến an ninh trật t công cộng và an toàn ã hội.

[5] Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định về tội “ Mua án trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) …

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

…

5. Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản”.

[6] Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các T hợp sau đ y, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) …

o) Tái phạm nguy hiểm.

…

5. Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản”.

[7] Hành vi của bị cáo Phạm Thế L đã phạm vào tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình s ; bị cáo Phạm Ranh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình s ; bị cáo Phạm Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình s nh Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Th y đã truy tố.

[8] Bị cáo T là ng ời có nhân thân ấu từng bị kết án về tội “Tràng trữ trái ph p chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” nay lại cố ý th c hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Bị cáo L và bị cáo Q là ng ời có nhân thân tốt đây là lần đầu các bị cáo vi phạm pháp luật.

[9] t các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình s thấy: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình s quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình s . Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành kh n khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đ ợc h ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình s . Bị cáo L có thời gian tham gia nghĩa v Q s nên đ ợc h ng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s .

[10] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình s cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho ã hội của hành vi phạm tội nhân thân ng ời phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình s Hội đồng t thấy để cải tạo giáo d c các bị cáo nói riêng cũng nh răn đe đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung cần phải phạt các bị cáo bằng hình phạt tù v i mức án nghiêm minh, t ng ứng v i tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo và cần áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối v i bị cáo L và bị cáo T.

[11] Về lý vật chứng:

- Đối v i khối l ợng ma túy loại Heroine mà c quan điều tra thu giữ của Phạm Văn Q 0,1700 gam ma túy loại Heroine sau khi lấy mẫu giám định còn 0,1125 gam và toàn bộ bao gói ký hiệu mẫu số A1; 1,9855 gam ma túy loại Heroine sau khi lấy mẫu giám định còn 1 9275 gam và toàn bộ bao gói thu của Phạm Thế L ký hiệu mẫu số A2; 0 1858 gam ma túy loại Heroine sau khi lấy mẫu giám định còn 0 1620 gam và toàn bộ bao gói thu của Phạm Ranh T ký hiệu mẫu số A4 thuộc loại Nhà n c cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s .

- Đối v i 01 ví da màu đen đã cũ thu giữ của Phạm Thế L; 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại vỏ màu vàng đã cũ; 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng giấy vỏ màu anh đã qua s d ng là công c ph ng tiện bị cáo L dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị s d ng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s .

- Đối v i 04 tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng quản lý của bị cáo L là tiền do phạm tội mà có; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu đen đã cũ thu giữ của Phạm Thế L; 01 điện thoại di động VIVO vỏ màu anh đã cũ thu giữ của Phạm Ranh T đã qua s d ng; 01 điện thoại di động VIETTEL vỏ màu đen trắng đã cũ thu giữ của Phạm Văn Q là ph ng tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà n c theo quy định tại điểm a b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s và điểm a b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s .

- Ðối v i e mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu s n đỏ đen biển kiểm soát 59V2-269.62 đã qua s d ng quá trình điều tra ác định là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn Riên (bố đẻ bị cáo Phạm Ranh T). Ông Riên và những ng ời trong gia đình không biết T s d ng e mô tô trên để đi mua ma túy. Ông Riên đã có đ n in lại chiếc e. C quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ s hữu là phù hợp v i quy định của pháp luật.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Thế L Phạm Ranh T và Phạm Văn Q phải chịu án phí hình s s th m và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

1. Tuyên ố:

- Bị cáo Phạm Thế L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Bị cáo Phạm Ranh T Phạm Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt:

2.1. Áp d ng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình s ; phạt bị cáo Phạm Thế L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26 9 2024 và phạt bổ sung 7.000.000 đồng.

2.2. Áp d ng điểm o khoản 2 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình s ; phạt bị cáo Phạm Ranh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26 9 2024 và phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

2.3. Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình s ; phạt bị cáo Phạm Văn Q 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/9/2024. Không áp d ng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

3. Về xử l vật chứng:

Áp d ng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình s :

3.1. Tịch thu tiêu huỷ 0,1125 gam Heroine (mẫu A1); 1,9275 gam Heroine (mẫu A2); 0 1620 gam Heroine (mẫu A4) và toàn bộ bao gói đ ng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1463/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình s Công an t nh Thái Bình.

3.2. Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen đã cũ của Phạm Thế L; 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại vỏ màu vàng đã cũ; 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng giấy vỏ màu anh.

3.3. Tịch thu sung vào ngân sách nhà n c 400.000 đồng của Phạm Thế L; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu đen đã cũ của Phạm Thế L; 01 điện thoại di động VIVO vỏ màu anh đã cũ của Phạm Ranh T đã qua s d ng; 01 điện thoại di động VIETTEL vỏ màu đen trắng đã cũ của Phạm Văn Q.

(Vật chứng đang quản lý tại Chi c c Thi hành án dân s huyện Thái Th y t nh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 24/12/2024).

4. Về án phí:

Áp d ng Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Phạm Thế L Phạm Ranh T và Phạm Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình s s th m.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp d ng Điều 331 Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình s . Các bị cáo Phạm Thế L Phạm Ranh T Phạm Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s th m 17/01/2025.

Cỡ chữ