vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 14/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy T phạm tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiểm đoạt tài sản".

II. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Duy T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024. IV. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Duy Trường - phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy T phạm tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiểm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS - ST
Ngày: 14 - 01- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Bƣờng

2. Ông Mai Xuân T

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/HSST ngày 29/11/2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 110/2025/HSST-QĐ ngày 31/12/2024 đối với:

1. Bị cáo Tạ Duy T sinh ngày 05/9/1982 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cƣ trú: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn A và bà Trần Thị M; Vơ: chị Nguyễn Thị H, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

Từ năm 2012 đến năm 2015 làm Trạm trƣởng trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên của Công ty cổ phần cấp nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn Thái Bình thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Bình. Từ năm 2015 đến ngày 28/5/2019, làm Trạm trƣởng trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên thuộc công ty cổ phần Bitexco Nam Long.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng, có mặt.

2. Bị hại:

2.1. Đại diện Công ty Bitexco Nam Long; Ông Nguyễn Văn B- Giám đốc nhà máy nƣớc Nam Long, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Lô A2, khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, phƣờng Trần hƣng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2.2. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1975, vắng mặt.

Nơi cƣ trú: thôn B, xã A, huyện K, tỉnh Thái Bình.

2.3. Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1969, vắng mặt.

Nơi cƣ trú: thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

2.4. Ông Trần Xuân N, sinh năm 1967, vắng mặt.

Nơi cƣ trú: thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

3.1. Anh Phạm Đăng Đ, sinh năm 1981, vắng mặt.

Nơi cƣ trú: thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

3.2. Anh Dƣơng Đức T, sinh năm 1985, vắng mặt.

Nơi cƣ trú: thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo T đƣợc bổ nhiệm làm Trạm trƣởng trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên của Công ty cổ phần cấp nƣớc sạch và vệ sinh nông thôn Thái Bình thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Bình. Thực hiện Quyết định số 1810/QĐ-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2015 của UBND tỉnh Thái Bình về việc giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, khai thác và đầu tƣ nâng cấp, mở rộng các công trình nƣớc sạch nông thôn tập trung tỉnh Thái Bình, trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên đƣợc bàn giao cho công ty cổ phần Bitexco Nam Long và bị cáo T vẫn đƣợc giữ nguyên chức vụ Trạm trƣởng. Nhiệm vụ, quyền hạn của T thực hiện theo Quy định số 715/QĐ – BITEXCO/NL của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long bao gồm: Thay mặt Giám đốc trực tiếp quản lý điều hành và giải quyết các phần công việc sản xuất tại trạm cấp nước; Tiếp nhận đơn xin lắp đặt mới đồng hồ nước của hộ dân, khảo sát địa bàn và vật tư lắp đặt, thu tiền kinh phí lắp đặt theo quy định của công ty. Chú ý lập phiếu thu tiền do công ty phát hành và giao lại liên 2 cho người nộp tiền; Tổng hợp Đơn, Phiếu khảo sát vật tư, Phiếu thu tiền và số tiền thu được về quỹ công ty qua phòng kế toán (trong cùng ngày làm việc).

Quá trình làm Trạm trƣởng trạm cấp nƣớc liên xã Bình Nguyên thuộc công ty cổ phần Bitexco Nam Long từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2019, bị cáo T đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện hành vi không đúng và vƣợt quá chức trách nhiệm vụ đƣợc giao để chiếm đoạt tiền sử dụng nƣớc của các hộ dân không nộp cho Công ty, chiếm đoạt tiền của các hộ dân nộp để lắp đồng hồ nhƣng không lắp và không nộp cho Công ty, tổng số tiền chiếm đoạt là 13.404.000đ(Mười ba triệu bốn trăm linh bốn nghìn đồng), cụ thể nhƣ sau:

1. Ngày 13/02/2019, bị cáo đến nhà anh Đoàn tự ý thu số tiền 1.300.000 đồng là tiền sử dụng 200m3 nƣớc sạch. Ngày 01/4/2019, bị cáo tiếp tục đến gia đình anh Đoàn thu số tiền 1.104.000 đồng là tiền sử dụng 184m3 nƣớc sạch. Tổng cộng là 2.404.000 đồng (Hai triệu bốn trăm linh bốn nghìn đồng). Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

2. Ngày 13/02/2019, bị cáo đến nhà và thu của gia đình anh Thọ số tiền 2.000.000 đồng là tiền sử dụng 351m3 nƣớc sạch. Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

3. Vào tháng 5 năm 2017, bị cáo thu số tiền 3.000.000 đồng của gia đình ông Thủy để lắp đặt đồng hồ đo sử dụng nƣớc sạch nhƣng không làm hợp đồng, không có phiếu thu tiền mà chỉ hẹn thời gian đến lắp đặt. Tuy nhiên sau đó, bị cáo không lắp đặt đồng hồ cho gia đình ông Thủy, không nộp số tiền về Công ty Bitexco theo quy định mà dùng số tiền đó chi tiêu cá nhân hết.

4. Ngày 18/3/2019, bị cáo thu số tiền 3.000.000 đồng của hộ gia đình ông Nghiệp để lắp đặt đồng hồ đo sử dụng nƣớc sạch nhƣng không làm hợp đồng theo quy định, không lắp đặt đồng hồ cho gia đình ông Nghiệp, mà chỉ có giấy biên nhận tiền do bị cáo viết. Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

5. Ngày 28/4/2019, bị cáo thu số tiền 3.000.000 đồng của gia đình ông Thân để lắp đặt đồng hồ đo nƣớc sạch nhƣng bị cáo không lắp đồng hồ cho hộ của anh Thân, khi thu tiền bị cáo không có phiếu thu tiền theo quy định, không làm hợp đồng mà chỉ có giấy biên nhận tiền do bị cáo viết. Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Công ty cổ phần Bitexco Nam Long và các hộ dân. Công ty và các hộ dân không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nữa.

Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKSKX ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Tạ Duy T về tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm điểm c khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Tạ Duy T phạm tội “ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 355, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tạ Duy T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Công ty cổ phần Bitexco Nam Long, ông T, ông N và ông T. Công ty và các ông trên không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì khác nên không giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với: Quyết định số 1810/QĐ-UBND ngày 12/8/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình v/v giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, khai thác và đầu tƣ nâng cấp, mở rộng các công trình nƣớc sạch nông thôn tập trung tỉnh Thái Bình; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần (Bút lục số: 13); Bảng tổng hợp danh mục công trình cấp nƣớc sạch; Quy định số 715/QĐ- BITEXCO/NL ngày 25/8/2015 của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long về nhiệm vụ, quyền hạn của Trạm trƣởng; Quyết định số 154/QĐ-NL ngày 28/5/2019 của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long miễn nhiệm chức vụ trạm trƣởng đối với bị cáoTạ Duy T; Các biên bản kiểm tra hiện T, giấy biên nhận tiền, đơn khiếu nại; Giấy nhận lại tiền tạm ứng; Công văn số 338/ĐN-BITEXCO/NL ngày 05/12/2019 của công ty CP BITEXCO NAM LONG đề nghị điều tra xử lý sai phạm tại trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xƣơng; Báo cáo số 369 ngày 06/01/2020 của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long; Báo cáo đề nghị xử lý sai phạm ngày 25/4/2020; Văn bản đề nghị rút đơn đề nghị xử lý sai phạm, công văn số 103 ngày 05/5/2020 của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long đề nghị rút lại công văn đề nghị điều tra xử lý sai phạm tại trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xƣơng; Lời khai của những ngƣời bị hại là: ông Nguyễn Hoàng T; ông Phạm Hồng T; ông Trần Xuân N; Biên bản ghi lời khai của ông Vũ Đức T, sinh năm 1969, trú tại tổ 18, phƣờng B, thành phố T; anh Phạm Đăng Đ, anh Dƣơng Đức T cũng nhƣ các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Quá trình từ tháng 5/2017 đến tháng 4/2019, bị cáo Tạ Duy T làm Trạm trƣởng trạm cấp nƣớc liên xã Bình Nguyên thuộc Công ty cổ phần Bitexco Nam Long đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện hành vi không đúng và vƣợt quá chức trách nhiệm vụ đƣợc giao để chiếm đoạt tiền sử dụng nƣớc của 02 hộ dân không nộp cho Công ty, chiếm đoạt tiền của 03 hộ dân nộp để lắp đồng hồ đo nƣớc nhƣng không lắp và không nộp cho Công ty, tổng số tiền chiếm đoạt là 13.404.000đ(Mười ba triệu bốn trăm linh bốn nghìn đồng).

Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Tạ Duy T phạm tội “ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng đã truy tố là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây dƣ luận xấu ở địa phƣơng. Vì vậy cần phải xử phạt mức án thật nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, phòng ngừa và răn đe tội phạm nói chung.

Bị cáo T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thƣờng, khắc phục thiệt hại cho bị hại, có bố đẻ là ngƣời có công với cách mạng, Công ty cổ phần Bitexco Nam Long đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo-là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đƣợc hƣởng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhân thân chƣa có tiền án, tiền sự, có con thứ hai sinh năm 2015 nhƣng từ năm 2019 đến nay đều phải điều trị bệnh động kinh hàng tháng. Vì vậy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dƣới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 355 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Công ty cổ phần Bitexco Nam Long tố giác bị cáo có các hành vi nhƣ: Tự ý thu tiền lắp đặt đồng hồ và các thiết bị đƣờng ống cung cấp nƣớc sạch của các hộ dân, sau đó mua đồng hồ ngoài thị T không đúng chủng loại mà Công ty Bitexco Nam Long sử dụng lắp đặt cho các hộ dân; Tự ý thu tiền lắp đặt đồng hồ nhƣng không lắp đồng hồ đo đếm mà đấu vào đƣờng ống cấp nƣớc chính của trạm nƣớc ....Sơ bộ ƣớc tính thiệt hại khoảng 1.166.647.000 đồng. Tuy nhiên, các tài liệu do Công ty cổ phần Bitexco Nam Long cung cấp ban đầu không phản ánh đầy đủ sai phạm của bị cáo. Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kiến Xƣơng đã nhiều lần gửi công văn và tiến hành làm việc với Công ty cổ phần Bitexco Nam Long đề nghị Công ty cung cấp tài liệu xác định thiệt hại, nhƣng Công ty cổ phần Bitexco Nam Long không cung cấp cho cơ quan điều tra. Ngày 05/5/2020, Công ty cổ phần Bitexco Nam Long có văn bản số 103/CV-NL đề nghị cơ quan CSĐT Công an huyện Kiến Xƣơng xin đƣợc rút đơn và xử lý nội bộ theo quy định của Công ty. Ngày 08/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kiến Xƣơng đã ra thông báo số 721/TB-CQCSĐT truy tìm bị hại liên quan đến những nội dung đơn tố giác của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long đối với bị cáo trên địa bàn 05 xã Thanh Tân, Bình Nguyên, An Bình, Quốc Tuấn, Lê Lợi. Kết quả làm việc với Ủy ban nhân dân các xã không ghi nhận đƣợc đơn đề nghị, phản ánh nào của nhân dân trên địa bàn 05 xã về nội dung thông báo trên. Làm việc với các nhân viên cùng làm việc với bị cáo tại trạm cấp nƣớc sạch liên xã Bình Nguyên, các nhân viên không phân biệt đƣợc đâu là đồng hồ nƣớc của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long, đâu không phải là đồng hồ nƣớc của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long do cùng một thời điểm Công ty sử dụng nhiều loại đồng hồ, nhiều chủng loại đồng hồ khác nhau. Các nhân viên đều không biết việc làm sai phạm của bị cáo. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kiến Xƣơng không có căn cứ để điều tra, làm rõ các hành vi nhƣ tố giác, đề nghị phản ánh ban đầu của Công ty cổ phần Bitexco Nam Long.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, các bị hại đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì khác nên Tòa án không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo với các bị hại.

Về án phí: Bị cáo Tạ Duy T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 355; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

I. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Duy T phạm tội "Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiểm đoạt tài sản".

II. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Duy T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.

IV. Về án phí:

Bị cáo Tạ Duy T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

V. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niên yết. Nợi nhận:

Cỡ chữ