- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 16-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Hạnh Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Yên.
2. Bà Ma Khánh Ly.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Thị Ngọc Hà-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
PHẠM QUỐC N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/3/1995 tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở hiện tại: Thôn YB, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dận tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Quang B, sinh năm 1970 và bà Lý Thị G, sinh năm 1974; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; vợ, con: chưa có.
- Tiền sự, nhân thân: Không.
- Tiền án: (01 tiền án) Bản án số 81/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Phạm Quốc N 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/10/2024, Phạm Quốc N đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực cây xăng thuộc xã BT, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn mục đích để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến nơi N xuống xe đi bộ một đoạn hỏi và mua được 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là lớp giấy trắng có dòng kẻ của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Mua được Heroine N đã sử dụng hết một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại N gói lại như cũ cầm ở tay rồi tiếp tục đi nhờ xe mô tô của một người qua đường để về nhà. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi đến thôn BH, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, N xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đang làm nhiệm vụ, nghi N có hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã PB, huyện Chiêm Hóa để làm việc. Quá trình làm việc N tự giác giao nộp gói ma túy có đặc điểm nêu trên, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 25/10/2024 đối với Phạm Quốc N, kết quả: (+) dương tính có chất ma túy trong cơ thể.
Tại kết luận giám định số 1462/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Phạm Quốc N là chất ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng 0,127g (Không phẩy một hai bảy gam).
* Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã thu giữ: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Quốc N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Quốc N, giám định ngày 26/10/2024.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSCH ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Phạm Quốc N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; đoạn 1 (tái phạm) điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Quốc N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/10/2024).
Hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Quốc N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Quốc N, giám định ngày 26/10/2024.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Quốc N, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Quốc N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/10/2024, tại khu vực Bản Ho, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang bị cáo Phạm Quốc N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,127g (Không phẩy một trăm hai mươi bảy gam) Heroine, mục đích để sử dụng. Đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Trước khi phạm tội bị cáo đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 81/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2023, đến nay chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục vi phạm nên cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.
Bị cáo Phạm Quốc N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như phần đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự; nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo; không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Quốc N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Quốc N, giám định ngày 26/10/2024.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Quốc N, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) là đúng quy định nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết trong vụ án.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; đoạn 1 (tái phạm) điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Phạm Quốc N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/10/2024).
Tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Phạm Quốc N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Quốc N, giám định ngày 26/10/2024. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa).
Bị cáo Phạm Quốc N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp; - Cơ quan Điều tra CA huyện Chiêm Hóa; - Cơ quan THAHS CA huyện Chiêm Hóa; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Phòng HSNV, CA tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Hạnh Quỳnh |