vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 14/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết Đ1 phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: 1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Viết Đ1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Viết Đ1 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết Đ1 phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 14-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Đông

Bà Chu Thị Hậu.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Trung tâm giáo dục thường xuyên - giáo dục nghề nghiệp huyện C, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lưu Viết Đ1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 8 năm 1982 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Dì S (đã chết) và con bà Lưu Lỷ H (đã chết); vợ: Hà Thị X; con: Có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 76/2009/HSST ngày 09/7/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Lưu Viết Đ1 04 (bốn) tháng tù giam về Tội đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng vào ngày 15/9/2009 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2024, tạm giam từ ngày 10/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hà Thị X, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Tô Văn Đ, sinh năm 1992; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Vy Hồng H1, sinh năm 1982; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 07/10/2024, tổ công tác Công an xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lưu Viết Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh biển kiểm soát: 12P1- 286.xx có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải đang mặc của Lưu Viết Đ1 có 03 (ba) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều có chất bột màu trắng. Lưu Viết Đ1 khai toàn bộ số chất bột màu trắng đều là ma túy Heroin, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã đưa người cùng tang vật về trụ sở để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Tang vật thu giữ gồm: 03 (ba) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh, cũ đã qua sử dụng có biển kiểm soát: 12P1-286.xx; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 862219067752389/07; IMEI 2: 862219067752397/07 và số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa qua giám định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lưu Viết Đ1 và thu giữ đồ vật tài sản, gồm: 01 (một) căn cước công dân mang tên Lưu Viết Đ1; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Lưu Viết Đ1; 01 (một) quyền vở ôly bên ngoài ghi chữ “bạn nhỏ” bên trong không có chữ viết; 01 (một) chiếc kéo bằng sắt có cán nhựa màu tím; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 200070000191 mang tên Lưu Viết Đ1.

Ngày 07/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định tạm giữ Lưu Viết Đ1 về hành vi mua bán trái phép chất tuý. Đến 16 giờ 35 phút ngày 07/10/2024 Cơ quan điều tra bàn giao Lưu Viết Đ1 cho Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn trong quá trình kiểm tra túi quần áo được bà Hà Thị X (vợ của Lưu Viết Đ1) gửi, phát hiện trong túi quần đùi màu đen có 01 (một) gói giấy có dòng kẻ bên trong có các cục chất bột ngả màu vàng, Cơ quan điều tra đã lập biên bản sự việc để làm căn cứ xác minh làm rõ.

Kết luận giám định số 1060/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 03 (ba) gói giấy màu trắng có dòng kẻ gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,238 gam (đã trừ bì).

Kết luận giám định số 1064/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Các cục, chất bột ngả màu vàng có trong 01 (một) gói giấy có dòng kẻ gửi giám định là chất ma túy H2, có tổng khối lượng 0,030 gam (đã trừ bì).

Kết luận giám định số: 1088/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) gửi giám định là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lưu Viết Đ1 khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy Heroin từ năm 2019 đến ngày bị bắt. Đầu tháng 10/2024 Lưu Viết Đ1 nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm lời. Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 06/10/2024, Lưu Viết Đ1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, có biển kiểm soát: 12P1-286.xx đi từ nhà ra khu vực cổng chợ Đ2, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tìm gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroin. Người này đồng ý cầm tiền và bảo Lưu Viết Đ1 đứng đợi trước cổng chợ rồi bỏ đi đâu không rõ. Khoảng 30 phút sau, người đàn ông này quay lại và đưa cho Lưu Viết Đ1 01 (một) gói ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, Lưu Viết Đ1 đi về nhà và chia gói ma túy vừa mua được thành 05 (năm) gói ma túy nhỏ, Lưu Viết Đ1 đã sử dụng hết một gói. Khoảng 09 giờ 30 ngày 07/10/2024, Lưu Viết Đ1 điều khiển xe mô tô đến khu vực thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn và bán 01 (một) gói ma tuý với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) cho Tô Văn Đ (sinh năm 1992, địa chỉ thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn), 03 (ba) gói ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, như đã nêu trên.

Đối với 01 (một) gói ma túy bị tạm giữ trong túi quần màu đen do người nhà của Lưu Viết Đ1 gửi, Lưu Viết Đ1 khai nhận: Trước lúc bị Cơ quan Công an bắt quả tang khoảng nửa tháng (ngày cụ thể không còn nhớ rõ) Lưu Viết Đ1 đi ra khu vực cổng chợ Đ2, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tìm gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua 01 (một) gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Lưu Viết Đ1 mang về nhà chia thành 02 (hai) gói, đã sử dụng hết 01 (một) gói ma túy, còn lại 01 (một) gói ma túy Lưu Viết Đ1 cất vào túi quần đùi màu đen để ở tủ quần áo riêng của Lưu Viết Đ1 và không cho ai biết việc này, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để xử lý theo quy định.

Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-CL, ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lưu Viết Đ1 về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết Đ1 phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Viết Đ1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lưu Viết Đ1 từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì ghi chữ "Quả tang Lưu Viết Đ1" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,205 gam Heroin và các vỏ bao gói (cũ) và một phong bì ghi chữ "Niêm phong sự việc" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,014 gam Heroin và vỏ bao gói (cũ); 01 (một) quyền vở ôly bên ngoài ghi chữ "bạn nhỏ" bên trong không có chữ viết; 01 (một) chiếc kéo có cán nhựa màu tím và 01 (một) chiếc quần đùi màu đen của Lưu Viết Đ1.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh đen bạc, cũ, đã qua sử dụng có biển kiểm soát: 12P1-286.xx, có số khung RLHJA3925MY204291, số máy JA39E2323595 của bị cáo Lưu Viết Đ1, kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12002112 mang tên Lưu Viết Đ1 do phòng C Công an tỉnh L cấp ngày 16/9/2021.

Trả lại cho bị cáo Lưu Viết Đ1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 862219067752389/07; IMEI 2: 862219067752397/07 kèm theo 01 (một) sim ở bên trong máy có số thuê bao 0396867118 của nhà mạng Viettel; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Lưu Viết Đ1; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 200070000191 mang tên Lưu Viết Đ1 do Sở G cấp ngày 02/03/2023.

Số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu của bị cáo Lưu Viết Đ1 đã qua giám định, trong đó có 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước; còn lại 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng) trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lưu Viết Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo nhất trí với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với người làm chứng anh Tô Văn Đ và người chứng kiến ông Vy Hồng H1 đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng, người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Viết Đ1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 00 ngày 06/10/2024, bị cáo Lưu Viết Đ1 một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực cổng chợ Đ2, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn gặp một người đàn ông lái xe ôm (không rõ tên và địa chỉ) mua với người này 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, bị cáo Lưu Viết Đ1 mang về nhà và chia nhỏ thành 05 (năm) gói nhỏ, sau đó bị cáo Lưu Viết Đ1 sử dụng 01 (một) gói. Khoảng 09 giờ 30 ngày 07/10/2024, bị cáo Lưu Viết Đ1 điều khiển xe mô tô đến khu vực thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn bán 01 (một) gói ma tuý cho Tô Văn Đ với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), 03 (ba) gói ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ, tổng khối lượng là 0,238 gam ma túy Heroin (đã trừ bì). Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Viết Đ1 phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Lưu Viết Đ1 có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo Lưu Viết Đ1 có đủ khả năng để nhận thức việc mua bán trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Viết Đ1 thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng đủ sức răn đe đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Viết Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Lưu Viết Đ1 năm 2009 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử về Tội đánh bạc (đã được xóa).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Lưu Viết Đ1 ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cụ thể phạt bị cáo Lưu Viết Đ1 5.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì ghi chữ "Quả tang Lưu Viết Đ1" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,205 gam Heroin và các vỏ bao gói (cũ) và một phong bì ghi chữ "Niêm phong sự việc" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,014 gam Heroin và vỏ bao gói (cũ); 01 (một) quyền vở ôly bên ngoài ghi chữ "bạn nhỏ" bên trong không có chữ viết; 01 (một) chiếc kéo có cán nhựa màu tím và 01 (một) chiếc quần đùi màu đen của Lưu Viết Đ1; là tang vật vụ án và những chất cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh đen bạc, cũ, đã qua sử dụng có biển kiểm soát: 12P1-286.xx, có số khung RLHJA3925MY204291, số máy JA39E2323595 của bị cáo Lưu Viết Đ1 (kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12002112 mang tên Lưu Viết Đ1 do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 16/9/2021), là phương tiện bị cáo sử dụng đi bán ma túy, nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 862219067752389/07; IMEI 2: 862219067752397/07 kèm theo 01 (một) sim ở bên trong máy có số thuê bao 0396867118 của nhà mạng Viettel; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Lưu Viết Đ1; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 200070000191 mang tên Lưu Viết Đ1 do Sở Giao thông vận tải Lạng Sơn cấp ngày 02/3/2023, không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo Lưu Viết Đ1.

Đối với số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu của bị cáo Lưu Viết Đ1 đã qua giám định, trong đó có 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) bị cáo bán ma túy mà có, cần tịch thu số tiền này để nộp ngân sách Nhà nước; còn lại 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng) trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,030 gam ma túy Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Lưu Viết Đ1 chưa đủ cấu thành của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 04/12/2024 Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 99/QĐ-XPHC, hình thức phạt tiền, mức phạt 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng), nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Hà Thị X (vợ của bị cáo Lưu Viết Đ1) sau khi nhận được tin chồng bị Công an bắt, đã gửi một túi quần áo đến Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn cho bị cáo Lưu Viết Đ1. Trong quá trình kiểm tra, phát hiện có 01 (một) gói ma túy có trong túi quần đùi màu đen. Cơ quan điều tra đã điều tra xác định, Hà Thị X không biết nguồn gốc 01 (một) gói ma tuý trên và không biết có ma túy trong túi quần áo gửi vào cho bị cáo Lưu Viết Đ1, do đó không xem xét xử lý đối với Hà Thị X, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Tô Văn Đ là người mua ma túy Heroin với Lưu Viết Đ1, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đề nghị Công an xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục quản lý, xác minh, khi đủ căn cứ thì tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Lưu Viết Đ1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết Đ1 phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Viết Đ1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/10/2024.

2.2. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lưu Viết Đ1 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi chữ "Quả tang Lưu Viết Đ1" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,205 gam Heroin và các vỏ bao gói (cũ) và 01 (một) phong bì ghi chữ "Niêm phong sự việc" (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,014 gam Heroin và vỏ bao gói (cũ); 01 (một) quyền vở ôly bên ngoài ghi chữ "bạn nhỏ" bên trong không có chữ viết; 01 (một) chiếc kéo có cán nhựa màu tím và 01 (một) chiếc quần đùi màu đen.

- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh đen bạc, cũ, đã qua sử dụng có biển kiểm soát: 12P1-286.xx, có số khung RLHJA3925MY204291, số máy JA39E2323595 của bị cáo Lưu Viết Đ1 (kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 12002112 mang tên Lưu Viết Đ1 do phòng C Công an tỉnh L cấp ngày 16/9/2021).

- Trả lại cho bị cáo Lưu Viết Đ1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 862219067752389/07; IMEI 2: 862219067752397/07 kèm theo 01 (một) sim ở bên trong máy có số thuê bao 0396867118 của nhà mạng Viettel; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Lưu Viết Đ1; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 200070000191 mang tên Lưu Viết Đ1 do Sở G cấp ngày 02/3/2023.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Lưu Viết Đ1 số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có.

- Trả lại cho bị cáo Lưu Viết Đ1 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024) và Ủy nhiệm chi ngày 24/12/2024 chuyển từ tài khoản của Công an huyện C, Lạng Sơn mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C, Lạng Sơn sang tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C, Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Lưu Viết Đ1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Viết Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ