vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Tuyên án 15/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lương Ngọc A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 31 tháng 10 năm 2024. Xử phạt bị cáo Hà Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 22 tháng 11 năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Ngọc A cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 15 - 01 - 2025.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Xuân

+ Ông Thào Seo Tỏa

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Bích Ngọc -Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần gồm có:

Thư ký: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Đại diện viện kiểm sát: Bà Lê Vân Anh - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/HSST-QĐ, ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên:Lƣơng Ngọc A;Tên gọi khác: không, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1997, tại huyện Ch, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Đ 16, thôn Đ, xã T, huyện Ch, thành phố Hà Nội. Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố N, thị trấn B, huyện B; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Lương Công Th và bà Đinh Thị H ; Vợ là Ly Thị V và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2022.Tiền án: không; Tiền sự:Tháng 8 năm 2024 bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa tiền sự. Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai “Có mặt tại điểm cầu thành phần, phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai”.

2. Họ và tên: Hà Văn L;Tên gọi khác: không, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1995, tại huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm Ổ G, xã Đ, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố N, thị trấn B, huyện B; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính:Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Hà Công Th và bà Bùi Thị H ; vợ là Bùi Thị L và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án;Tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ không tố giác tội phạm” thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên được coi là không có án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai “Có mặt tại điểm cầu thành phần, phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ sáng ngày 28/10/2024 Ngọc A đang ở trong nhà khu vườn Lan của Đỗ Chí L thuộc tổ dân phố N, thị trấn B. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã gọi điện thoại cho Ly Văn P đặt mua 1.500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp, P đồng ý bán cho Ngọc A 30 viên ma túy tổng hợp. P đã nhờ em trai là Ly Văn C vận chuyển ma túy từ xã Tả Th, huyện Mường Kh đến bãi đá Km 5, xã N, huyện B để giao cho Ngọc A với giá 150.000 đồng (tiền công do Ngọc A trả). Ngọc A đã nhờ người chuyển cho P số tiền 1.000.000 đồng và mượn của Hà Văn L 650.000 đồng để trả tiền ma túy cho P. Sau đó, Ngọc A hẹn C ở khu bãi đá Km 5, xã N, huyện B để lấy ma túy. Đến khoảng gần 12 giờ cùng ngày, C đi đến bãi đá Km 5 gặp Ngọc A đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển số 24B2-672.14 đến, C đã đưa cho Ngọc A 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, Ngọc A mở ra kiểm tra bên trong thấy 01 gói nilon có chứa các viên nén hình trụ tròn màu hồng nhưng không đếm lại. Ngọc A biết bên trong có 30 viên ma túy hồng phiến nên có nói với C “bên trong này là 30 viên thiếu viên nào mày chết”. Sau khi nhận được ma túy Ngọc A đã mở gói ma túy ra đếm lấy 10 viên, rồi xé một mảnh nilon từ gói nilon cũ gói thành một gói riêng cất vào gấu quần nỉ màu đen, bên phải đang mặc trên người. Ngọc A vứt vỏ bao thuốc lá Thăng Long đi và gói số ma túy còn lại vào mảnh nilon cũ cầm trên tay rồi điều khiển xe mô tô đi về vườn lan của anh Đỗ Chí L. Khi về đến vườn lan, Ngọc A thấy Đào Quang Tr và Hà Văn L đang ở đấy. Ngọc A để gói ma túy đang cầm trên tay xuống giường, rồi mở ra lấy ra 01 viên ma túy để sử dụng và lấy giấy bạc bên trong bao thuốc lá đã mua từ trước ra rồi xé 01 mảnh nhỏ để 01 viên ma túy lên mảnh giấy bạc, lấy 01 vỏ chai nước bằng nhựa trong suốt được đục 01 lỗ để 01 ống được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đồng (đã có sẵn ở trong phòng từ trước) và 01 chiếc bật lửa màu đỏ (đã bị mất nắp kim loại phía trên) ở trên giường làm công cụ để sử dụng chất ma túy. Ngọc A đốt và sử dụng viên ma túy được một nửa thì không sử dụng nữa và để chai nước xuống giường, để mảnh giấy bạc bên trên có viên ma túy đã sử dụng được một nửa cạnh chai nước và về chỗ nằm, cởi quần dài ra để trên giường rồi nằm xem điện thoại. Sau khi đánh răng xong Hà Văn L đi vào phòng, thấy Ngọc A đang hút ma túy từ chai nhựa, L ngồi xuống giường sạc điện thoại. Do cũng có nhu cầu sử dụng ma túy, nên L đến cầm chai nhựa và mảnh giấy bạc bên trên có viên ma túy đã hút dở rồi bật lửa hút ma túy qua đường miệng. Sử dụng ma túy xong, L đặt chai nhựa vừa hút ma túy xuống giường gần vị trí Ngọc A ngồi rồi nằm xuống giường chơi game. Sau khi ngủ dậy, Tr vẫn thấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy trên giường, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên Tr lấy 01 viên ma túy trong gói nilon ở trên giường để sử dụng rồi đi về nhà. Một lúc sau, L ngồi dậy thấy Ngọc A đang nằm ngủ, nên L đã lấy gói nilon bên trong có số ma túy còn lại sau khi sử dụng vẫn để ở trên giường gói vào tờ tiền 1.000đồng và cất vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người rồi đi ngủ. Khoảng 05 phút sau, tổ công tác Công an huyê ̣n Bắc Hà đến mờ i Lương Ngọc A, Hà Văn L về tru ̣ sở để làm viê ̣c . Tại Công an huyện Bắc Hà, L đa tự̃ nguyê ̣n lấy tờ tiền 1.000đồng bên trong có 08 viên ma túy màu hồng và ma túy đã vỡ vụn từ túi áo khoác bên phải đang mặc trên người ra để giao nộp. Sau đó, lực lượng Công an huyện Bắc Hà đã tiến hành khám xét chỗ ở của L và Ngọc A phát hiện 09 viên và 02 mảnh vỡ ma túy Ngọc A gói trong mảnh nilon cất giấu ở gấu quần nỉ màu đen bên phải để trên giường vị trí chỗ Ngọc A nằm. Tại Cơ quan điều tra Lương Ngọc A và Hà Văn L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

- Tại bản kết luận giám định số: 492/KL-GĐMT, ngày 01/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

+ Các viên nén màu hồng và nhiều vụn bột, mảnh vỡ của viên nén màu hồng do Hà Văn L giao nộp đều là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,532 gam.

+ 09 viên nén hình trụ tròn màu hồng có đặc điểm giống nhau, trên bề mặt của mỗi viên có dập chìm ký tự “WY”, 02 mảnh vỡ màu hồng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Lương Ngọc A và Hà Văn L đều là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,052 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà ra Quyết định trưng cầu giám định số 175/QĐ-TCGĐ ngày 30/10/2024 và Quyết định trưng cầu giám định số 189/QĐ-TCGĐ ngày 08/11/2024, gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai để giám định đường vân. Tại Kết luận giám định số 70/KL-GĐĐV ngày 07/11/2024, và Kết luận giám định số 75/KL-GĐĐV ngày 09/11/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

- Không thu được dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định trên các mẫu gửi giám định sau:

+ 01 vỏ chai nước bằng nhựa trong suốt (không có nắp), chiều dài là 21,5cm, đường kính miệng chai là 2,7cm, đường kính đáy chai là 5cm, phần cổ chai có 01 vòng nhựa màu đỏ, phần thân chai được đục 01 lỗ tròn;

+ 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000đồng, có số hiệu RL2378940, tại một góc của tờ tiền đã bị cắt hình tam giác (tờ tiền cuộn tròn cắm trên lỗ thủng của chai nhựa);

+ 01(một) bật lửa màu đỏ (bị mất phần kim loại phía trên), bật lửa cũ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000đồng, có số hiệu HY 8056305, tại một góc của tờ tiền đã bị cắt tam giác.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-BH, ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Ngọc A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn L từ 01 năm 06 tháng đến năm 02 năm tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy:

+1,339gam (một phẩy ba trăm ba mươi chín gam) chất ma túy (Methamphetamine) được đựng trong túi nilon, ký hiệu M1, được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định do Hà Văn L tự nguyện giao nộp khi làm việc với cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”.

+ 0,720 gam chất ma túy (Methamphetamine) được ký hiệm là M2; 0,085 chất ma túy (Methamphetamine) được ký hiệu là M3, thu giữ của Lương Ngọc Anh, được đựng trong túi nilon, ký hiệu M2 và M3 được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ tại gấu quần bên phải của Lương Ngọc A trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Ngọc A và Hà Văn L tại vườn lan của anh Đỗ Chí L tại thôn Na Kim, xã Tà Chải, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”.

+ 01(một) chiếc quần vải dài màu đen, kích thước dài 80,5cm, cạp quần rộng 37,5cm, mỗi ống quần rộng 11,5cm, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa trong suốt (không có nắp), chiều dài là 21,5cm, đường kính miệng chai là 2,7cm, đường kính đáy chai là 5cm, phần cổ chai có 01 vòng nhựa màu đỏ; 01 (một) bật lửa màu đỏ (bị mất phần kim loại phía trên), bật lửa cũ đã qua sử dụng.

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Readme, màu bạc, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử.

- Trả lại cho Hà Văn L 01 (một) điện thoại di động Iphone6s Plus, màu hồng, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về án phí và quyền kháng cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, khoảng 9 giờ sáng ngày 28/10/2024 Lương Ngọc A đã đặt P mua ma túy tổng hợp với số tiền là 1.500.000 đồng, P đồng ý bán cho Ngọc A 30 viên ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine) có tổng khối lượng là 2,778 gam ma túy (loại Methamphetamine), mục đích mua về sử dụng dần. Sau khi mua được ma túy Ngọc A đã lấy 10 viên ma túy gói ra 01 gói riêng giấu ở gấu quần nỉ đang mặc bên người, số còn lại gói vào mảnh nilon cũ cầm trên tay rồi điều khiển xe đi về vườn lan nhà Đỗ Chí L. Tại đây, có Hà Văn L và Đào Quang Tr cũng đang ở nhà. Ngọc A lấy 01 viên trong gói ninon cầm trên tay ra sử dụng một nửa, số ma túy còn lại Ngọc A để trên gường. Sau khi thấy Ngọc A sử dụng ma túy xong để trên giường thì L và Tr đã tự lấy ma túy của Ngọc A ra để sử dụng, số ma túy sau khi sử dụng xong còn lại Hà Văn L đã gói vào tờ tiền 1000 đồng và cất vào trong túi áo khoác bên phải mặc trên người. Sau đó, Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Hà đã mời Ngọc A và L lên làm việc. Tại cơ quan điều tra L đã tự nguyện giao nộp gói ma túy đang cất trong người ra, số ma túy đó có khối lượng là 1,532 gam ma túy (loại Methamphetamine);Tiến hành khám xét khu ở của L và Ngọc A đã thu giữ số ma túy Ngọc A đã giấu trong gấu quần nỉ có khối lượng là 1,052 gam ma túy (loại Methamphetamine). Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám xét khẩn cấp, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lương Ngọc A đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp 2,778 gam ma túy (loại Methamphetamine),(gồm số ma túy do Hà Văn L giao nộp có khối lượng là 1,532 gam và số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Lương Ngọc A và Hà Văn L thu giữ được có khối lượng là 1,052 gam và 02 viên ma túy mà Lương Ngọc A, Hà Văn L và Đào Quang Tr đã sử dụng có tổng khối lượng là 0,194 gam). Bị cáo Hà Văn L đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp 1,532 gam ma túy (Trong số ma túy mà Ngọc A đã mua về). Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Về hình phạt: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật, các bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đánh giá vai trò của từng bị cáo để có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Đối với Lương Ngọc A là người bỏ tiền ra mua 2,778 gam ma túy (loại Methamphetamine) mang về cất giấu với mục đích để sử dụng dần. Vì vậy, Lương Ngọc A phải chịu trách nhiệm với vai trò chính đối với hành vi tàng trữ 2,778 gam ma túy (loại Methamphetamine) trong vụ án.

Đối với Hà Văn L là đồng phạm với vai trò là người thực hành giúp sức trực tiếp cất giấu 1,532 gam ma túy (loại Methamphetamine) trong số ma túy mà Ngọc A đã mua về. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi tàng trữ số lượng ma túy này.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Nên cần đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Ngọc A có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền sự: Tháng 8 năm 2024 bị Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa tiền sự. Ngoài ra, năm 2019 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.

Bị cáo L có nhân thân xấu, năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ không tố giác tội phạm” thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên được coi là không có án tích.

Lẽ ra sau khi được tái hòa nhập cộng đồng các bị cáo phải lấy đó làm bài học tự sửa chữa sai lầm của bản thân, nhưng các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xem xét tuyên mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo giục và phòng ngừa chung.

.Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Do các bị cáo và Đào Quang Tr đều là người có nhu cầu sử dụng ma túy và khi thấy có ma túy thì tự lấy để sử dụng, không bị ai rủ rê, lôi kéo; bị cáo Lương Ngọc A chuẩn bị dụng cụ, ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không có mục đích lôi kéo người khác sử dụng cùng, nên không đủ căn cứ để xử lý bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo và Đào Quang Tr về hành vi này, xét thấy là phù hợp.

Đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của Ly Văn C Cơ quan điều tra đã khởi tố và xử lý ở một vụ án khác, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với anh Đỗ Chí L là chủ vườn lan nơi các bị cáo tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Do anh Lâm chỉ cho các đối tượng đến chơi và ở nhờ, không biết hành vi tàng trữ và sử dụng ma túy của các bị cáo và Đào Quang Tr, nên không đề cập xử lý đối với anh Đỗ Chí L là phù hợp.

Đối với Ly Văn P và Thèn Văn K: Ly Văn C khai nhận P là người gọi điện cho C đến gặp Thèn Văn K để lấy ma túy vận chuyển cho Lương Ngọc A, P là người đã chuyển số tiền 150.000 đồng tiền công vận chuyển ma túy của Ngọc A cho C. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Ly Văn P và Thèn Văn K lên làm việc. Tuy nhiên, Ly Văn P và Thèn Văn K đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Ngày 27/11/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà đã ra Quyết định truy tìm người số 204 và 205 để truy tìm đối với Thèn Văn K và Ly Văn P để có căn cứ tiếp tục xử lý tiếp theo, nên xét thấy là phù hợp.

Đối với người mà Lương Ngọc A nhờ chuyển tiền 1.000.000 đồng cho Ly Văn P: Khi chuyển tiền Ngọc A không nói cho người đó biết việc chuyển tiền để mua ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

.Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 24B2-672.14; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, số sêri HY8056305 và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, có số sêri RL2378940 đã thu giã khi khám xét nơi ở của Ngọc A và Hà Văn L. Xác định đây là tài sản của ông Đỗ Chí L, nên ngày 28/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà trả lại cho ông Đỗ Chí Lâm là phù hợp.

- Đối với 01 (một) gói ma túy được gói bên ngoài bằng mảnh nilon, bên trong có chứa các viên nén màu hồng và nhiều vụn bột, mảng vỡ viên nén màu hồng ký hiệu là M1có khối lượng1,532gam (một phẩm năm trăm ba mươi hai gam) chất ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Hà Văn L, trích mẫu giám định 0,193 gam, hoàn lại sau giám định là 1,339gam (một phẩy ba trăm ba mươi chín gam) chất ma túy (Methamphetamine) được đựng trong túi nilon, ký hiệu M1, được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định do Hà Văn L tự nguyện giao nộp khi làm việc với cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) gói ma túy được gói bên ngoài bằng mảnh nilon bên trong gồm có 09 (chín) viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,917gam (không phẩm chín trăm mười bảy gam) chất ma túy (Methamphetamine), trích mẫu giám định 0,197 gam, hoàn lại sau giám định là 0,720 gam được ký hiệm là M2; 02 mảnh vỡ màu hồng có khối lượng là 0,135 gam ma túy (Methamphetamine), trích mẫu giám định 0,050 gam ma túy (Methamphetamine), hoàn lại sau giám định là 0,085 gam ma túy (Methamphetamine) ký hiệu là M3 thu giữ của Lương Ngọc A, được đựng trong túi nilon, ký hiệu M2 và M3 được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ tại gấu quần bên phải của Lương Ngọc A trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Ngọc A và Hà Văn L tại vườn lan của anh Đỗ Chí L tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc quần vải dài màu đen, kích thước dài 80,5cm, cạp quần rộng 37,5cm, mỗi ống quần rộng 11,5cm, quần cũ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, nhưng bị cáo không có nhu cầu lấy lại, xét thấy không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa trong suốt (không có nắp), chiều dài là 21,5cm, đường kính miệng chai là 2,7cm, đường kính đáy chai là 5cm, phần cổ chai có 01 vòng nhựa màu đỏ; 01 (một) bật lửa màu đỏ (bị mất phần kim loại phía trên), bật lửa cũ đã qua sử dụng, đây là công cụ các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Readme, màu bạc, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Lương Ngọc A. Đây công cụ bị cảo sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy vẫn còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone6s Plus, màu hồng, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Hà Văn L. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho Lâm. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

.Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lương Ngọc A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 31 tháng 10 năm 2024.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 22 tháng 11 năm 2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu để tiêu hủy:

+1,339gam (một phẩy ba trăm ba mươi chín gam) chất ma túy (Methamphetamine) được đựng trong túi nilon, ký hiệu M1, được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định do Hà Văn L tự nguyện giao nộp khi làm việc với cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”.

+ 0,720 gam chất ma túy (Methamphetamine) được ký hiệm là M2; 0,085 chất ma túy (Methamphetamine) được ký hiệu là M3, thu giữ của Lương Ngọc Anh, được đựng trong túi nilon, ký hiệu M2 và M3 được niêm phong trong 01 (một) bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai, bì thư có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ tại gấu quần bên phải của Lương Ngọc A trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Ngọc A và Hà Văn L tại vườn lan của anh Đỗ Chí Lâm tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 28/10/2024”.

+ 01 (một) chiếc quần vải dài màu đen, kích thước dài 80,5cm, cạp quần rộng 37,5cm, mỗi ống quần rộng 11,5cm, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ chai nước bằng nhựa trong suốt (không có nắp), chiều dài là 21,5cm, đường kính miệng chai là 2,7cm, đường kính đáy chai là 5cm, phần cổ chai có 01 vòng nhựa màu đỏ; 01 (một) bật lửa màu đỏ (bị mất phần kim loại phía trên), bật lửa cũ đã qua sử dụng

-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Readme, màu bạc, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử.

- Trả lại cho Hà Văn L 01 (một) điện thoại di động Iphone6s Plus, màu hồng, bên trong có 01 sim viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên được cơ quan điều tra chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự theo biên bản bàn giao ngày 29 tháng 11 năm 2024).

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Ngọc A và Hà Văn L mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo Bản án: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ