- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Huyền T ly hôn anh Huỳnh Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09 – 7 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tuấn Kiệt
2. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Huyền T, sinh năm 1993. Địa chỉ: số C, khóm C, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là số C, khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau). (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: số C, khóm D, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là số C, khóm D, phường V, tỉnh Cà Mau). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Huyền T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh H tự nguyện sống chung từ năm 2015, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/7/2018. Chị và anh H đã ly thân từ tháng 12/2024 đến nay do vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, sống chung không hợp nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị và anh H có hai người con chung là Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai người con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật kể từ ngày Tòa án giải quyết vụ án cho đến khi hai người con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Huỳnh Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị T ly hôn với anh H.
+ Về con chung: Giao cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
+ Về cấp dưỡng: Buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là 2.205.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1, cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 09/7/2025).
+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị T và anh H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H, anh H đang cư trú trên địa bàn phường E, thành phố B (nay là địa bàn phường V, tỉnh Cà Mau) nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cà Mau) thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh H là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị T và anh H tự nguyện sống chung từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên hôn nhân giữa chị T và anh H là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị T và anh H đã ly thân từ tháng 12/2024 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị T và anh H không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, như vậy anh H đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh H.
Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do chị T cung cấp và lời khai của chị T thì chị T và anh H có hai người con chung là Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020, hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh H đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị T nhưng anh H không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị T. Xét thấy, cháu H1 và cháu V sống cùng với chị T từ khi ly thân đến nay, hiện cháu H1 và cháu V phát triển tốt, chị T có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Đồng thời, tại biên bản lấy ý kiến ngày 30/5/2025 cháu H1 có nguyện vọng sống cùng với chị T. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu H1 và cháu V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Vì vậy, chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi hai người con chung theo quy định pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận. Theo quy định pháp luật thì mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú, anh H đang cư trú trên địa bàn phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường V, tỉnh Cà Mau) là thuộc vùng II với mức lương tối thiểu là 4.410.000 đồng/tháng. Do đó, buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là 2.205.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1, cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 09/7/2025).
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh H phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Huyền T ly hôn anh Huỳnh Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 cho chị Võ Thị Huyền T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Huỳnh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Buộc anh Huỳnh Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Gia H1, sinh ngày 22/02/2018 và cháu Huỳnh Nhã V, sinh 23/7/2020 với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là 2.205.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H1, cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 09/7/2025.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Võ Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000452 ngày 13 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 – Cà Mau) nên được chuyển sang thu án phí. Anh Huỳnh Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Khu vực 6 – Cà Mau; - Phòng THADS Khu vực 6 – Cà Mau; - Các đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Ly |