- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thanh Kiều và anh Nguyễn Minh Tươi tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG _________________ Bản án số: 03/2025/HNGĐ- ST Ngày: 17-01-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Nhàn
2. Ông Danh Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh K, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T trên cở sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đầm ấm được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm với nhau dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, bất hòa, mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành. Hiện vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau, cuộc sống không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn, làm cho hôn nhân làm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thanh K yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Thiện N, sinh ngày 16/9/2006, giới tính nam, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/4/2018, giới tính nam (hiện đang chung sống cùng anh T), chị K thống nhất giao con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Minh T vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 14/01/2025 anh T xác định về quan hệ hôn nhân anh thống nhất ly hôn với chị K, về con chung thống nhất có 02 con chung là Nguyễn Thiện N, sinh ngày 16/9/2006, giới tính nam, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết và Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/4/2018, giới tính nam (hiện đang chung sống cùng anh T), anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Trọng N1, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thanh K đối với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/4/2018, giới tính nam cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị K được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh K, bị đơn anh Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét vắng mặt chị K, anh T.
Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thanh K yêu cầu xin ly hôn, giải quyết con chung với anh Nguyễn Minh T nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh T trên cơ sở yêu thương nhau tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và không còn tình cảm mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành, hiện anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thanh K.
Về quan hệ con chung: Chị K và anh T có 02 con chung là Nguyễn Thiện N, sinh ngày 16/9/2006, giới tính nam, đã trưởng thành nên không giải quyết và Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/4/2018, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh T), chị K đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh, hiện cháu Trọng N1 đang sống chung cùng anh T cuộc sống được đảm bảo. Vì vậy, xét về lợi ích mọi mặt và để đảm bảo cuộc sống cho cháu Trọng N1 nên căn cứ Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên giao con chung là Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/4/2018, giới tính nam cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu, chị K có quyền tới lui chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí xin ly hôn: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002443 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
2- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 21/8/2018, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh T) cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con, chị K có quyền tới lui chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
3- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu về tài sản chung, xác định không có nợ chung nên không xem xét.
4- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002443 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
5- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự chị K, anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Vĩnh Thuận; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thuận; -UBND xã Vĩnh Bình Nam (nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |