vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nguyễn Duy H

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hà Linh - sinh ngày: 20/08/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Chị Hà Thị D có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Doanh - Nguyễn Duy Hùng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nguyễn Duy H
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ- ST
Ngày 27/03/2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA- THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mừng

Bà Lương Thị Diện

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên;

Vào ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị D - Sinh năm: 1991.

HKTT: Bản Cang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 03/03/2025)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H - Sinh năm: 1988.

HKTT: Bản Cang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hà Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy H kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 10/03/2011 tại UBND thị trấn Quan Hoá (Nay là thị trấn Hồi Xuân), huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại Bản Cang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Tuy nhiên đến khoảng năm 2015 thì tình cảm vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Duy H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Hà Linh - sinh ngày: 20/08/2011, hiện cháu đang sống cùng anh H và ông bà nội. Ly hôn, chị có nguyện vọng giao cháu Linh cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng tự thoả thuận vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh H đến tòa án để làm bản tự khai nhưng anh H vắng mặt nên không có lời khai của anh Hùng trong hồ sơ vụ án. Chị D đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh H không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh H. Anh H cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị D đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh H.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị D được ly hôn anh H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Linh - sinh ngày: 20/08/2011 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị D không yêu cầu giải quyết phần cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét. Về tài sản và công nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Hà Thị D và anh Nguyễn Duy H đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 10/03/2011 tại UBND thị trấn Quan Hoá (Nay là thị trấn Hồi Xuân), huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hoà hợp được, vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống. Vợ chồng hay đi làm ăn xa nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt xa cách. Vì những lẽ đó, từ khoảng năm 2015 vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Việc này đã được Trưởng bản Cang và chính quyền địa phương và xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Toà án. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nguyễn Duy H để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.

Về con chung: Chị D và anh H có 01 con chung là Nguyễn Hà Linh - sinh ngày: 20/08/2011, hiện cháu đang sống cùng anh H và ông bà nội. Chị D có nguyện vọng giao cháu Linh cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, cháu Linh có nguyện vọng ở cùng với bố. Xét hoàn cảnh thực tế cháu Linh đang ở cùng anh H và ông bà nội, cháu Linh cũng có nguyện vọng muốn được ở cùng bố. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Linh cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị D không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về tài sản và công nợ: Chị D không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Hà Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nguyễn Duy H

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hà Linh - sinh ngày: 20/08/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên.

Chị Hà Thị D có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở

Án phí: Chị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0006577 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị D đã thi hành xong khoản án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị D và anh H. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ