vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn c a bà Nguyễn Thị Ly H đối với ông Phạm Hồng X.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ly H được ly hôn với ông Phạm Hồng X 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ly H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Tuấn K, sinh ngày 26/6/2008 và Phạm Đăng K1, sinh ngày 24/4/2012 cho đến khi các con chung trưởng thành đ 18 tu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ly H-Phạm Hồng X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn c a bà Nguyễn Thị Ly H đối với ông Phạm Hồng X.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-01-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Tường Vi;

2. Ông Trương Hữu Bình;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 302/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ly H, sinh năm 1982; HKTT: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Phạm Hồng X, sinh năm 1981; HKTT: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 23/8/2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông X có mối quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương vào ngày 11/6/2007. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Những năm gần đây, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không sống chung từ hơn một năm nay. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng hiện không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn ly hôn với ông X.

- Về con chung: Có hai con chung Phạm Tuấn K, sinh ngày 26/6/2008 và Phạm Đăng K1, sinh ngày 24/4/2012. Bà H yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng. Tại đơn vắng mặt ngày 16/12/2024, bà H yêu cầu ông X cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 5.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chứng cứ nguyên đơn giao nộp: Bản chính đơn xin ly hôn ngày 01/8/2024; bản chính giấy chứng nhận kết hôn.

* Ý kiến của bị đơn:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đầy đ các th tục tống đạt, niêm yết để ông X tham gia tố tụng nhưng ông T cố tình vắng mặt mà không có lý do nên không thu thập được ý kiến.

* Xác minh và làm việc của Tòa án:

Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh đối với mẹ bị đơn là bà H1, xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng bà H ông X sống chung không hợp, không còn yêu thương nhau, hiện vợ chồng đã ly thân.

Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành xác minh đối trưởng ấp H: Ông X có đăng ky thường trú tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng đã ly thân từ hơn một năm nay.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định c a Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Việc vắng mặt c a bị đơn là cố tình nên đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo các Điều 227, 228 c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Không kiến nghị khắc phục, b sung các th tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày c a các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu xét xử mặt, bị đơn ông X đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đ các th tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và ngh a vụ c a mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 c a Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà H khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn ông X, ông X có hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết c a Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 c a Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo đơn xin ly hôn, bà H khởi kiện ly hôn với ông X. Quá trình tố tụng, bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông X không tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn bà H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông X có mối quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương vào ngày 11/6/2007. Hôn nhân giữa bà H và ông X đã thực hiện đúng th tục quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Trong thời gian chung sống, ông X và bà H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do sống chung không hợp, không ai quan tâm, chăm sóc nhau; hiện vợ chồng không còn ở chung hơn một năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, ông X cố tình vắng mặt, điều này thể hiện bị đơn không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm. Thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông X theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà H và ông X có hai con chung Phạm Tuấn K, sinh ngày 26/6/2008 và Phạm Đăng K1, sinh ngày 24/4/2012. Xét thấy, cháu K và cháu K1 có nguyện vọng được sống cùng với mẹ nên Hội đồng xét xử giao hai cháu cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 c a Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà H yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi hai mỗi tháng 3.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 c a Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì cha không trực tiếp nuôi con chung có ngh a vụ cấp dưỡng đối với con chưa thành niên. Ông X không trực tiếp nuôi dưỡng con chung thì phải có ngh a vụ cấp dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đ 18 tu i. Căn cứ vào tình hình thực tế với mức sống trung bình tại địa phương và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 c a Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng mỗi con 2.500.000 đồng) cho đến khi con chung trưởng thành đ 18 tu i là phù hợp với khả năng kinh tế c a ông X nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà H xác định tự thoả thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà H không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

kiến c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định c a pháp luật.

Bà H tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 c a Bộ luật Tố tụng dân năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 19, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 107 c a Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn c a bà Nguyễn Thị Ly H đối với ông Phạm Hồng X.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ly H được ly hôn với ông Phạm Hồng X

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ly H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Tuấn K, sinh ngày 26/6/2008 và Phạm Đăng K1, sinh ngày 24/4/2012 cho đến khi các con chung trưởng thành đ 18 tu i. Ông Phạm Hồng X phải có ngh a vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng năm triệu đồng), mỗi con 2.500.000 đồng hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi con chung trưởng thành đ 18 tu i. Thực hiện cấp dưỡng nuôi con từ tháng 02/2025.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Nguyễn Thị Ly H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Hồng X không thực hiện việc cấp dưỡng nêu trên, thì hàng tháng ông X còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 c a Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con c a người đó. Vì lợi ích c a con, Tòa án có thể quyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

2.1. Bà Nguyễn Thị Ly H tự nguyện chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0000607 ngày 11/10/2024 c a Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

2.2. Ông Phạm Hồng X phải nộp 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định c a pháp luật.

4. Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 c a Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 c a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ