vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày01/9/2023. Giao cháu Gia B cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên.Chị D1 không yêu cầu anh M1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "03 HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 277 Bộ luật Dân sự; Điều 40 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/01/2025
.
V/v: Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết. Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thái Dìn và ông Bùi Thanh Bình -Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền – Thư ký TAND huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử TAND huyện Cẩm Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXX-ST, ngày 10 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST, ngày 27/12/2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị D năm 2004 Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M năm 1994 Trú tại: Thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2024, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị D1 trình bày: Chị và anh M1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/11/2022 theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và cách làm ăn cư xử trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là kể từ tháng 01 năm 2023, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết được ly hôn với anh M1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2023. Hiện nay cháu B đang ở với chị D1 tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nay ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và không yêu cầu anh M1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn M1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Giấy triệu tập cho anh, nhưng anh vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh đối với người thân của anh M1 là bà Trương Thị T (Mẹ đẻ của anh M1). Bà T cho biết: Chị D1 và anh M1 quen biết khi đi làm ăn và tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện N chứ không đăng ký tại UBND xã C, huyện C. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình được hơn 01 tháng chị D1 có bầu thì ông bà ngoại xin cho chị D1 về trong Ngọc L để đi làm công ty may và trông nhà cửa cho ông bà. Từ đó chị D1 không về nhà chồng nữa và khi chị D1 sinh con bà có lên bệnh viện và vào nhà ngoại để chăm cháu, xin cho hai mẹ con chị D1 về bên nội nhưng chị D1 không về. Anh M1 đi làm ăn thỉnh thoảng mới về nhà, vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Vấn đề ly hôn vợ chồng chị D1 và anh M1 cũng đã trao đổi với gia đình, và do vợ chồng tự quyết định. Về con chung chị D1 và anh M1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2023, hiện nay cháu đang ở cùng với chị D1. Về tài sản chung vợ chồng không có tài sản chung. Hiện nay, anh M1 đang đi làm ở Lang Chánh có gọi điện về trao đổi đồng ý ly hôn và thống nhất giao con cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản anh M1 không có yêu cầu gì. Bà T đã nhận giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà T cam đoan đã thông báo và giao lại cho anh M1. Do bận công việc nên anh M1 đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Trần Thị D1 ly hôn anh Nguyễn Văn M1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2023. Giao cháu Gia B cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị D1 không yêu cầu anh M1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị D1 không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị D1 phải chịu 300.000đ án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Trần Thị D1 làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn anh Nguyễn Văn M1 trú tại: Thôn Y, xã C, huyện C, Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Chị Trần Thị D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt chị theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật TTDS.

Anh Nguyễn Văn M1 hiện không có mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc. Kết quả xác minh tại Công an xã C, anh M1 có hộ khẩu thường trú tại địa phương, anh đang đi làm ăn nhưng không có địa chỉ cụ thể, anh vẫn thường xuyên về quê, anh M1 đi không khai báo cho chính quyền địa phương biết. Căn cứ vào khoản 3 điều 40, điểm b khoản 2 điều 277 của BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ cuối cùng của bị đơn theo hộ khẩu thường trú là thôn Y, xã C, huyện C, Thanh Hóa.

Anh M1 đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Các thủ tục tố tụng đã được đã tiến hành đảm bảo theo quy định tại khoản 5 điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227- Bộ luật TTDS. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy tiến hành xét xử vắng mặt anh M1. Bị đơn không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D1 và anh Nguyễn Văn M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 – Luật hôn nhân gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa chị D1 và anh M1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và cách làm ăn cư xử trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu của chị D1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điều 51 và điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày 01/9/2023. Chị D1 có nguyện vọng được nuôi con, anh M1 đồng ý. Nguyện vọng nuôi con của chị là chính đáng, do đó giao cháu B cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi thành niên. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị D1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét

Về án phí: Chị D1 phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 96, khoản 4 điều 147, khoản 5 điều 177, khoản 1 điều 227, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228, điều 238 và điều 273 Bộ luật TTDS. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho chị Trần Thị D1 được ly hôn anh Nguyễn Văn M1.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Gia B, sinh ngày01/9/2023. Giao cháu Gia B cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên.Chị D1 không yêu cầu anh M1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các đương sự có quyền khởi kiện về việc cấp dưỡng và thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu, nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị D1 phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu ký hiệu: BLTU/24 số 0005058, ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy. Chị D1 đã nộp đủ án phí DSST.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện Cẩm Thuỷ;

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- Chi cục THADS huyện C;

- UBND xã C;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Vũ Thị Ánh Tuyết

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ