- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng SGTT khởi kiện Huỳnh Phước l về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày 13 – 01 – 2025 V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phi Hùng
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 301/2024/TLST- DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT. Địa chỉ: Số 266-268, đường NKKN, phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1973 Địa chỉ cư trú: Số 80/17, đường số 8, phường 11, quận GV, Thành phố Hồ Chí minh (theo văn bản ủy quyền ngày 12/10/2022 – xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Phước L, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện như sau:
Vào ngày 27/6/2022, ông Huỳnh Phước L đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT, (gọi tắt là Ngân hàng) để được cấp thẻ tín dụng. Căn cứ vào thu nhập của ông L, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng VS payWare Cre Platium 436438 – 1368 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng. Đến ngày 03/8/2022 ông L thực hiện đăng ký tiêu dùng trên ứng dụng Sacombank Pay (viết tắt Sacombank Pay) với số tiền giải ngân là 30.000.000 đồng với mục đích là tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2,216%/tháng, lãi suất quá hạn 3,324%/tháng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 28.946.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng số tiền 9.700.000 đồng. Sau thời gian sử dụng ông L không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Căn cứ vào bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng, ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 21/02/2024 thẻ tín dụng VS payWare Cre Platium 436438 – 1368 ông L nợ tổng số tiền 36.772.340 đồng. Trong đó dư nợ gốc là 24.331.588 đồng, lãi quá hạn là 12.440.752 đồng.
Đối với khoản vay tiêu dùng Sacombank Pay giải ngân qua số tài khoản 3269326587, từ ngày giải ngân số tiền 9.000.000 đồng, ông L không thanh toán nợ gốc và lãi. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 21/02/2024, khoản vay Sacombank Pay 3269326587 của ông L còn nợ tổng số tiền 14.481.275 đồng, trong đó nợ gốc là 9.860.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 4.621.275 đồng.
Mặc dù, ông L có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng ông L không thực hiện. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Phước L thanh toán tổng số nợ tính đến ngày 30/12/2024 (dương lịch) là 64.124.488 đồng, trong đó thẻ tín dụng VS payWare Cre Platium 436438 – 1368 ông L nợ tổng số tiền 46.223.688 đồng, gồm dư nợ gốc là 24.331.588 đồng, lãi quá hạn 21.892.100 đồng. Đối với khoản tiêu dùng Sacombank Pay 3269326587 nợ gốc là 9.860.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 8.040.800 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2025 theo lãi suất quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Phước L không có ký hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh.
Đối với ông Huỳnh Phước L trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông L vẫn vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản dưới hình thức cấp thẻ tín dụng. Ông Huỳnh Phước L là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện TB, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Phước L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung của vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay được thể hiện dưới hình thức cấp thẻ tín dụng theo giấy đề nghị của ông Huỳnh Phước L vào ngày 03/8/2022 cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng và khoản vay tiêu dùng Sacombank Pay giải ngân qua số tài khoản 3269326587 với số tiền là 9.000.000 đồng. Khi vay bị đơn ông Huỳnh Phước L có ký giấy đề nghị kèm theo giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình sử dụng thẻ ông L đã thực hiện giao dịch đối với các thẻ trên và hiện nay tính đến ngày 30/12/2024 (dương lịch) ông L còn nợ Ngân hàng là 64.124.488 đồng. Trong đó thẻ tín dụng VS payWare Cre Platium 436438 – 1368 ông L nợ số tiền 46.223.688 đồng. Trong đó dư nợ gốc là 24.331.588 đồng, lãi quá hạn 21.892.100 đồng. Đối với khoản tiêu dùng Sacombank Pay 3269326587 nợ gốc 9.860.000 đồng, lãi quá hạn 8.040.800 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu ông L thanh toán nhưng ông L vẫn không thanh toán.
Đối với ông L trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn ông Huỳnh Phước L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến Tòa án cũng không gửi văn bản nêu ý kiến để bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của mình. Mặc khác, tại hồ sơ thể hiện tất cả các giao dịch của hai bên đều do các bên tự nguyện xác lập và trong quá trình các khoản vay quá hạn Ngân hàng cũng đã thông báo cho ông L nhiều lần, nhưng ông L vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông Huỳnh Phước L thanh toán khoản nợ tính đến ngày 30/12/2024 với tổng số tiền là 64.124.488 đồng.
Tại phiên tòa Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Phước L không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh khoản nợ vay và không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Huỳnh Phước L phải chịu theo quy định. Ngân hàng không phải chịu án phí, vào ngày 16/4/2024 Ngân hàng đã dự nộp số tiền 1.281.340 đồng, được nhận lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT.
Buộc ông Huỳnh Phước L thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tính đến ngày 30/12/2024 (dương lịch) với tổng số tiền là 64.124.488 đồng (Sáu mươi bốn triệu một trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm tám mươi tám đồng) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/12/2024 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 30/12/2024 ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Huỳnh Phước L phải nộp số tiền là 3.206.000 đồng (chưa nộp). Ngân hàng thương mại cổ phần Gòn Thương Tín không phải nộp án phí. Vào ngày 16/4/2024, Ngân hàng đã dự nộp 1.281.340 đồng theo biên lai số 0026345 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Ngân hàng được nhận lại khi bản án có hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; -VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - Chi cục THADS Thành phố Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu TM (TANDHTB). | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( Đã ký) Phạm Kim Cương |