vanban.org

Bản án 03/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phan Văn K: Buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh phải có nghĩa vụ trả cho ông K tổng số tiền nợ gốc vay là 166.

Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án mà ông H, bà Linh chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng ông H, bà Linh còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nêu trên tương ứng với thời gian chậm trả. Án phí dân sự sơ thẩm: Ô…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Văn K - Phạm Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phan Văn K: Buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh phải có nghĩa vụ trả cho ông K tổng số tiền nợ gốc vay là 166.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/DS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tú

Ông Trần Hoàng Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 468/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc“Tranh chấp hợp đồng vay”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn K, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1975;

Bà Trần Cẩm Linh, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh C .

Tại phiên tòa, ông Phan Văn K, ông Phạm Minh H có mặt, bà Trần Cẩm Linh vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Nguyên đơn là ông Phan Văn K trình bày:

Ngày 12/10/2022 âm lịch, vợ chồng ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh có hỏi mượn ông số tiền là 40.000.000đ và trước đó là năm 2019 có mượn và còn nợ ông số tiền là 100.000.000đ; Tổng số tiền nợ là 140.000.000đ. Ông đã liên hệ nhiều lần yêu cầu ông H, bà Linh trả nợ nhưng ông H, bà Linh không trả.

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh trả nợ gốc là 140.000.000đ và lãi suất tính từ ngày 12/10/2022 âm lịch theo quy định pháp luật (10%/năm) đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng cộng là 25 tháng x 140.000.000đ x 0,83% = 29.050.000đ, Tổng số tiền ông yêu cầu ông H, bà Linh phải trả là 169.050.000đ.

- Theo bị đơn là ông Phạm Minh H trình bày: Ông thống nhất và xác định có nợ ông Phan Văn K số tiền 140.000.000đ như ông K trình bày. Do làm ăn, kinh doanh trong gia đình thất bại nên có mượn ông K nhiều lần với số tiền 140.000.000đ, không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của ông K. Nay điều kiện khó khăn nên không còn khả năng trả một lần cho ông K, có bao nhiêu ông sẽ trả bao nhiêu cho đến khi trả hết nợ cho ông K.

- Đối với bị đơn là bà Trần Cẩm Linh được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của ông Phan Văn K.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn là ông Phan Văn K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu tính lãi suất từ ngày 12/10/2022 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm đối với số tiền nợ vay 140.000.000đ, đồng ý đối trừ số tiền lãi 02 tháng mà bị đơn đã đóng là 4.000.000đ.

- Bị đơn là ông Phan Minh Hải giữ nguyên lời trình bày, đồng ý trả số tiền nợ còn thiếu ông K là 140.000.000đ. Thống nhất trả lãi đối với số tiền vay 40.000.000đ, đối với số tiền 100.000.000đ là số tiền mượn nên ông không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của ông K. Đối với số tiền đóng lãi cho ông K, ông xác định đã đóng cho ông K từ 07 tháng đến 08 tháng chứ không phải 02 tháng như ông K trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Văn K khởi kiện ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi theo quy định pháp luật nên đây là“Tranh chấp hợp đồng vay” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh có nơi cư trú tại ấp Phấn Thạnh, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Cẩm Linh là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng bà Linh vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Linh là phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Phan Văn K khởi kiện yêu cầu buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh phải trả cho ông K tổng số tiền đã vay là 140.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật (10%/năm), thấy rằng: Giao dịch dân sự về việc vay tiền giữa ông Phan Văn K với ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh có lập thành văn bản, nội dung thỏa thuận không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Tại phiên tòa, ông H thống nhất và xác định có nợ ông Phan Văn K số tiền 140.000.000đ như ông K trình bày. Do làm ăn, kinh doanh trong gia đình thất bại nên vợ chồng ông có mượn ông K nhiều lần với số tiền 140.000.000đ, chỉ đồng ý trả lãi đối với số tiền vay 40.000.000đ nhưng phải đối trừ số tiền lãi đã đóng từ 07 tháng đến 08 tháng, mỗi tháng đóng lãi số tiền là 2.000.000đ. Ông H không đồng ý trả lãi đối với số tiền 100.000.000đ theo yêu cầu của ông K vì số tiền này là ông K cho mượn chứ không cho vay. Nay điều kiện khó khăn nên không còn khả năng trả một lần cho ông K, có bao nhiêu ông sẽ trả bao nhiêu cho đến khi trả hết nợ cho ông K.

Đối với bị đơn là bà Trần Cẩm Linh (vợ của ông Phạm Minh H), kể từ khi thụ lý giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã ra Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Linh không đến tham dự. Tòa án cũng đã triệu tập bà Linh để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bà Linh không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Giấy biên nhận ngày 12/10/2022 âm lịch cùng lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn là ông Phạm Minh H và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phạm Minh H và bà Trần Cẩm Linh có nghĩa vụ liên đới trả cho ông K tổng số tiền vay 140.000.000đ là có căn cứ.

Đối với yêu cầu tính lãi: Theo Giấy biên nhận ngày 12/10/2022 âm lịch thì các đương sự không ghi về mức lãi suất mà các bên tự thỏa thuận. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tính lãi suất theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng: Do các bên không xác định được lãi suất, nguyên đơn là ông Phan Văn K yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất là 0,83%/tháng là phù hợp. Đối với số tiền vay 140.000.000đ tính từ ngày 12/10/2022 âm lịch (05/11/2022 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm 13/01/2025 dương lịch là 26 tháng 08 ngày nhưng chỉ yêu cầu làm tròn 26 tháng: (140.000.000đ x 0,83%/tháng) x 26 tháng = 30.212.000đ.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông H xác định đã đóng lãi cho ông K từ 07 tháng đến 08 tháng (2.000.000đ/tháng) nhưng không cung cấp và đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét. Nguyên đơn chỉ chấp nhận đối trừ 02 tháng lãi đã đóng với số tiền 4.000.000đ cho bị đơn.

Như vậy, tổng số tiền vốn và lãi cần buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh có trách nhiệm trả cho ông K là 140.000.000đ + 30.212.000đ = 170.212.000đ. Đối trừ số tiền lãi đã đóng (02 tháng x 2.000.000đ) = 4.000.000đ theo nguyên đơn xác định, tổng số tiền bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là: 170.212.000đ - 4.000.000đ = 166.212.000đ.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phan Văn K: Buộc ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh phải có nghĩa vụ trả cho ông K tổng số tiền nợ gốc vay là 166.212.000đ (Một trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm mười hai nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 140.000.000đ, nợ lãi là 26.212.000đ, trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án mà ông H, bà Linh chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng ông H, bà Linh còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nêu trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Minh H, bà Trần Cẩm Linh phải có nghĩa vụ nộp 8.310.000đ (Tám triệu ba trăm mười nghìn đồng, đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch - Chưa nộp.

Nguyên đơn là ông Phan Văn K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 14/10/2024, ông K có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013731 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được nhận lại toàn bộ.

3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thanh Tú

Trần Hoàng Chiến

Tăng Thị Nhớ

Cỡ chữ