vanban.org

Bản án 03/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Thiện T , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Thiện T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S dư nợ tính đến ngày 22/11/2024, tổng cộng là 76.090.662đ (bảy mươi sáu triệu không trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng), trong đó vốn là 23.733.121đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba nghì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Thiện T , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/DS-ST
Ngày: 10 – 01 – 2025
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 221/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 197/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S .

Địa chỉ: Số 266 - 268 N , phường V , Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M , sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Lầu 6, 278 N , phường V , Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Thiện T , sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 150G đường L, Khóm A, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21/12/2023 của nguyên đơn và Bản tự khai, Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của người đại diện do nguyên đơn ủy quyền ông Lã Ngọc M trình bày:

Ngày 12/8/2017, Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) có ký hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với ông Nguyễn Thiện T . Căn cứ vào mức thu nhập của ông T , Ngân hàng đồng ý cấp Thẻ tín dụng cho ông T hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 60.961.329đ (sáu mươi triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi chín đồng). Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 51.664.808đ (năm mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm lẻ tám đồng), Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhức nhở ông T thanh toán số tiền Thẻ tín dụng cho Ngân hàng nhưng ông T không thực hiện. Đến ngày 01/4/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với số tiền là 23.733.121đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn một trăm hai mươi mốt đồng) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ này theo hợp đồng hai bên đã ký kết.

Tính đến ngày 22/11/2024, ông T còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 76.090.662đ (bảy mươi sáu triệu không trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng), trong đó vốn là 23.733.121đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn một trăm hai mươi mốt đồng) và lãi quá hạn là 52.357.541đ (năm mươi hai triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng).

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Thiện T phải thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, ông T còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 23/11/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Thiện T : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông T không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, ông T cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 24/12/2024, ông T vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thiện T cư trú tại Khóm A, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Thiện T đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại đơn xin vắng mặt, người đại diện theo ủy của nguyên đơn có trình bày rõ các yêu cầu của nguyên đơn và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người đại diện theo ủy của nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung giải quyết:

Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi, phí tiền vay của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét tính hiệu lực của hợp đồng tín dụng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) ngày 12/8/2017, Bản tóm tắt sao kê về quá trình giao dịch của ông Nguyễn Thiện T đối chiếu với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và việc không phản đối của bị đơn thì việc Ngân hàng và ông Nguyễn Thiện T ký kết hợp đồng mở Thẻ tín dụng tuân thủ các quy định của Ngân hàng và không vi phạm các điều trái với pháp luật. Do đó, có cơ sở khẳng định việc ông T có ký với Ngân hàng về việc mở tài khoản và sử dụng tiền trong tài khoản do Ngân hàng cho vay và chuyển vào tài khoản của ông T là thực tế.

Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) ngày 12/8/2017 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và ông Nguyễn Thiện T đã nhận đủ tiền mở Thẻ tín dụng. Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, ông T đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng (yêu cầu mở Thẻ tín dụng) ngày 12/8/2017 có lãi suất thỏa thuận là 2,6%/tháng, quy định các loại phí theo Hợp đồng đã ký kết. Đây là lãi suất, phí do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Thiện T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thiện T phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc và các khoản phí là có cơ sở chấp nhận.

Kể từ ngày 23/11/2024, ông Nguyễn Thiện T còn phải tiếp tục chịu lãi, phí đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất, phí đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông Nguyễn Thiện T phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Thiện T , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Thiện T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S dư nợ tính đến ngày 22/11/2024, tổng cộng là 76.090.662đ (bảy mươi sáu triệu không trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi hai đồng), trong đó vốn là 23.733.121đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn một trăm hai mươi mốt đồng) và lãi quá hạn là 52.357.541đ (năm mươi hai triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng).

Đồng thời ông T còn phải trả cho Ngân hàng tiền lãi, phí phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 23/11/2024 cho đến khi trả xong số nợ gốc.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thiện T phải chịu là 3.804.533đ (ba triệu tám trăm lẻ bốn nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.637.702đ (một triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm lẻ hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0021677 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ