vanban.org

Bản án 03/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B
Bản án số: 03/2024/HSST
Ngày: 15-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X,

TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trần Hiển

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà La Thị Thu Nga

2. Ông Văn Phú Hiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ- Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn B, sinh năm 1997 tại tỉnh B Th. Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: Xã T, thị xã L, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1971 và bà Lê Thị L, sinh năm 1971 (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền tiền sự: Không; bị bắt tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện X ngày 10/7/2023. “Có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Trần Vũ Ngọc K, sinh năm 1992. Trú tại: Ấp T, xã B, huyện X, tỉnh B, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 10/7/2023, Công an xã B, huyện X tuần tra trên địa bàn, khi đến nhà hàng Minh Phước trên Quốc lộ 55 thuộc ấp T, xã B, huyện X thì phát hiện Trần Văn B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05 có biểu hiện nghi vấn cất giấu ma túy nên yêu cầu B giao nộp, B lấy từ túi quần bên trái ra 06 đoạn ống nhựa chứa chất kết tinh không màu, trong suốt và 01 nỏ thủy tinh ra nộp. Tại Cơ quan điều tra, B khai 06 gói ma túy mua của một người tên H (không rõ lai lịch) vào ngày 07/7/2023 tại xã T, thị xã L, tỉnh T với giá 1.000.000 đồng để về sử dụng, B đã sử dụng 03 lần, số ma túy còn lại cất giấu thì bị Công an phát hiện thu giữ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về kết luận giám định: Tại Kết luận giám định số 353/KL-KTHS-MT ngày 19/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh, không màu, trong suốt chứa trong 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có hình dấu của Công an xã B, CAH X, tỉnh Bà R và các chữ ký ghi họ tên: Thượng úy Vũ Văn Tr, Phan Duy L, Trần Vũ Ngọc K, Trần Văn B gửi đến giám định có khối lượng 0,6507 gam là ma túy, loại Methamphetamine (bút lục số 45).

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 353 ngày 19/7/2023, có in hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B các chữ ký ghi họ tên: Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Võ Thanh H, Đỗ Thị Linh S, Hoàng Nhân Q; 01 nỏ thủy tinh hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện X đang tạm giữ chờ xử lý.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05, số khung: N5P110BY329309, số máy 5P11-329315, anh Trần Vũ Ngọc K mua lại của một người ở xã H, huyện X với giá 3.500.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh, chiếc xe này do Nguyễn Phượng Th đứng tên chủ sơ hữu. Tuy nhiên, Công an xã M cung cấp không có người tên Nguyễn Phượng Th đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ ấp 4, xã M, huyện B, tỉnh B nên chuyển Cơ quan thi hành án dân sự huyện X quản lý chờ xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đề nghị trả lại chiếc xe cho anh K, các vật chứng còn lại xử lý theo quy định của pháp luật; anh K đề nghị xử lý chiếc xe theo quy định của pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 19/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 28 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 353 ngày 19/7/2023; 01 nỏ thủy tinh là vật không còn giá trị sử dụng; tiếp tục giao Cơ quan thi hành án dân sự huyện X tạm giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05, số khung: N5P110BY329309, số máy 5P11-329315 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn B: Xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, xét thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 10/7/2023, Công an xã B, huyện X tuần tra trên địa bàn phát hiện bị cáo B cất giấu trong túi quần 06 đoạn ống nhựa chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,6507 gam để sử dụng. Hành vi bị cáo cất giấu ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về hành vi, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm công tác quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự và không xử phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 353 ngày 19/7/2023; 01 nỏ thủy tinh là vật không còn giá trị sử dụng; tiếp tục giao Cơ quan thi hành án dân sự huyện X tạm giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05, số khung: N5P110BY329309, số máy 5P11-329315 để xử lý theo quy định của pháp luật, do chưa xác định được chủ sở hữu.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 353 ngày 19/7/2023; 01 nỏ thủy tinh là vật không còn giá trị sử dụng; tiếp tục giao Cơ quan thi hành án dân sự huyện X tạm giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05, số khung: N5P110BY329309, số máy 5P11-329315 để xử lý theo quy định của pháp luật, do chưa xác định được chủ sở hữu là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong vụ số 353 ngày 19/7/2023; 01 nỏ thủy tinh.

- Tiếp tục giao Cơ quan thi hành án dân sự huyện X tạm giữ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Novou, màu vàng đen biển số 93P1-099.05, số khung: N5P110BY329309, số máy 5P11-329315 để xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 18/BB ngày 02/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện X) .

Án phí: Bị cáo Trần Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ