- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê quang việt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Quang V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 12 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Tâm
Ông Nguyễn Thế Nam
- Thư ký phiên tòa: Chị Dương Bùi Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thạch T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/2023/TLST-HS ngày 19-12-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2023/QĐXXST-HS ngày 26-12-2023, đối với bị cáo:
Lê Quang V, sinh năm 1994 tại: Đà Nẵng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; nơi ở hiện nay: Tổ D, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Lê Thị H, sinh năm 1969; có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1990 (không đăng ký kết hôn); có 01 người con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 02/9/2023 đến ngày 11/9/2023 tiếp tục bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Đến ngày 17/10/2023, được thay thế biện pháp ngăn chặn biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang V bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017, loại và hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/9/2023, V điều khiển xe mô tô biển số 60B7-299.26 đến cầu D thước, thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai tìm gặp một người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 500.000 đồng ma túy đá được 02 gói nylon hàn kín. Sau đó, V bỏ số ma túy trên vào phong bì màu vàng, cầm trên tay trái, đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi V đang điều khiển xe mô tô trên đi trên đường số C, thuộc khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường B kiểm tra, phát hiện đang cầm trên tay trái một phong bì màu vàng bên trong chứa 02 gói ma túy đá. Công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy trên và đưa V về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận giám định số 1988/KL-KTHS ngày 08/9/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,9797 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 187/CT-VKSLK ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào 13 giờ 45 phút, ngày 02-9-2023, khi Lê Quang V đang tàng trữ 0,9797 gam, loại: Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đang mắc nhiều bệnh. Vì vậy, áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về vật chứng:
- 01 (Một) Phong bì được niêm phong số 1988/KL-KTHS ngày 08/9/2023, bên trong có chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số sim 0389.019.300 đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 60B7-299.26, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Vũ Thành T3. Do anh T3 không biết việc V mượn xe để đi mua và cất giấu ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe cho anh T3 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); 1. Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Quang V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2023 đến 17/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1988/KL-KTHS ngày 08/9/2023.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08-12-2023).
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Thành viên HĐXX sơ thẩmThẩm phán – chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Long Khánh;
- CQCSĐT CA thành phố Long Khánh;
- CQTHAHS CA thành phố Long Khánh;
- CCTHADS thành phố Long Khánh;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.
Phạm Thị Vân Khánh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Vân Khánh
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố Long Khánh; - CQCSĐT CA thành phố Long Khánh; - CQTHAHS CA thành phố Long Khánh; - CCTHADS thành phố Long Khánh; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Vân Khánh |