- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 31-01-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Đàm Thị Hảo.
Ông: Hoàng Thăng Bắc.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ưu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Văn K, (Tên gọi khác: không có) sinh ngày 07/10/1990, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Đồng Thị T; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/9/2023 đến ngày 05/10/2023 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn H, sinh năm 1950. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Những người chứng kiến:
- Ông Triệu Văn C, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1970. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 26/9/2023, bị cáo Dương Văn K điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-472.54 của ông Dương Văn H (bố đẻ bị cáo K) đi từ nhà ở thôn N, xã K, huyện B đến thị trấn C, huyện B với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi bị cáo K đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu B, thị trấn C, huyện B thì có một người đàn ông không quen biết giống như người nghiện đến gần hỏi “Lấy hàng à”, bị cáo K trả lời “Đang kiếm mà không biết chỗ lấy”, người đàn ông bảo “Để đi lấy hộ cho” nên bị cáo K đưa cho 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) người đàn ông đi khoảng 15 phút rồi quay lại đưa cho bị cáo K 01 gói được gói bằng túi ni lon bên trong có chứa 02 gói ma túy, loại Heroine. Mua được ma túy bị cáo K cho ma túy vào trong miệng rồi điều khiển xe mô tô đi về đến thôn Bản Piềng, xã T, huyện B thì bị tổ công tác của Công an huyện B cùng Công an xã T, Công an xã K, huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói bên trong có 02 gói dạng cục, bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu A1. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Dương Văn K 01 điện thoại di động niêm phong vào phong bì ký hiệu A2, số tiền 229.000 đồng (Hai trăm hai mươi chín nghìn đồng) niêm phong vào phong bì ký hiệu A3 và 01 xe mô tô biển số đăng ký 97B1-472.54.
Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Dương Văn K, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo K.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng 01 gói bên trong có 02 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Dương Văn K được 0,23 gam (Không phẩy hai ba gam) niêm phong trong phong bì ký hiệu B1. Sau đó tiến hành bàn giao cho Phòng K1 Công an tỉnh B để trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số: 307/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,23 g (Không phẩy hai ba gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,19 g (Không phẩy một chín gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T172 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B quản lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSBB ngày 27/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Dương Văn K theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Dương Văn K từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án trừ đi thời gian bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói, túi ni lon cũ dùng để bọc gói ma túy không có giá trị đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T172, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Dương Văn K (1990), TT: Nà Mằm - K - B - Bắc Kạn tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T172”, mặt sau có 02 (Hai) chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, phía sau có in chữ S, điện thoại có ốp nhựa dẻo trong suốt, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Chiếc điện thoại này là của bị cáo Dương Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Đối với số tiền 229.000 đồng tạm giữ của bị cáo Dương Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đỏ, BKS: 97B1-472.54, xe cũ đã qua sử dụng. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của ông Dương Văn H, bị cáo đã sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Tuy nhiên, ông Dương Văn H không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông H.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn K đều thừa nhận: Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 26/9/2023, tại thôn Bản Piềng, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B cùng Công an xã T, Công an xã K, huyện B phát hiện bắt quả tang bị cáo Dương Văn K về hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,23 gam (Không phẩy hai ba gam). Mục đích bị cáo K mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến, huân chương chiến sĩ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, gia đình không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói, túi ni lon cũ dùng để bọc gói ma túy; 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T172, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Dương Văn K (1990), TT: Nà Mằm - K - B - Bắc Kạn tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T172”, mặt sau có 02 (Hai) chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B. Toàn bộ số vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, phía sau có in chữ S, điện thoại có ốp nhựa dẻo trong suốt, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Chiếc điện thoại này là của bị cáo Dương Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Đối với số tiền 229.000 đồng tạm giữ của bị cáo Dương Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đỏ, Biển kiểm soát 97B1-472.54, xe cũ đã qua sử dụng. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của ông Dương Văn H. Ngày 26/09/2023, bị cáo đem xe đi mua ma túy, ông H không biết nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông H.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn K có khai nhờ một người đàn ông không quen biết mua ma túy hộ, người đàn ông này không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Dương Văn H (bố bị cáo) là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 97B1-472.54. Ngày 26/9/2023 bị cáo K đem xe đi mua ma túy, ông H không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với ông H.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 05/10/2023).
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 6.000.000 (Sáu triệu đồng) đối với bị cáo Dương Văn K để sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói, túi ni lon cũ dùng để bọc gói ma túy; 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T172, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Dương Văn K (1990), TT: Nà Mằm - K - B - Bắc Kạn tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T172”, mặt sau có 02 (Hai) chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B.
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, phía sau có in chữ S, điện thoại có ốp nhựa dẻo trong suốt, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Dương Văn K. Tuy nhiên, tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Trả lại số tiền 229.000 đồng (Hai trăm hai mươi chín nghìn đồng) cho bị cáo Dương Văn K. Tuy nhiên, tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đỏ, BKS: 97B1-472.54, xe cũ đã qua sử dụng cho ông Dương Văn H (Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn).
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/12/2023 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Bị cáo Dương Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Ba Bể; - Bị cáo; - Người có QL, NVLQ; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Công an huyện Ba Bể; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |