- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 08-01-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phan và ông Phạm Văn San
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Hoàng Minh và ông Nguyễn Đình Khoa- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/HSST ngày 30/11/2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 12/2023/TB-TA ngày 25/12/2023 đối với các bị cáo:
1. Vũ Văn T, sinh năm 1955; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hoá: 02/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị B và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 17/02/2000, bị Công an TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt vào ngày 17/02/2000;
Ngày 17/6/2016, bị Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Chứa bạc và đánh bạc, đã nộp phạt vào ngày 26/6/2016.
Ngày 07/9/2023, bị Công an huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.
2. Phạm Hoài N, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Hồng Q và bà Phạm Thị Ánh T; có vợ là Vũ Thị H và một con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.
3. Phạm Đức T5, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi ở hiện nay: thôn N, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Quang T và bà Vũ Thị V; có vợ là Nguyễn Thị T (đã chết) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn T: Bà Đinh Thị Hòa và bà Nguyễn Thị Mến- Đều là Luật sƣ thuộc Công ty Luật TNHH Quốc tế DTH, Đoàn Luật sƣ thành phố Hà Nội; địa chỉ: Số 72C Nguyễn Khang, phƣờng Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Bà Hòa có mặt, bà Mến vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Phạm Hoàng L, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Đoàn Văn Th, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Trần Văn H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
+ Anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Đại diện theo ủy quyền của anh K: Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Ông V và các anh T1, T2, L, Th, H, bà T3, anh H1 đều vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978;
+ Anh Nguyễn Quang N1, sinh năm 1984;
+ Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1977;
+ Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1990;
+ Anh Đỗ Văn T4, sinh năm 1988;
Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vũ Văn T, Phạm Hoài N và Phạm Đức T5 có quan hệ quen biết nhau. Khoảng 07 giờ 32 phút ngày 03/6/2023, T gọi điện cho Phạm Hoài N nội dung liên quan đến việc “vần gà chọi”, sau đó N bắt 01 con gà chọi, loại gà trống, lông màu đen (Gọi là gà ô), chân màu vàng, nặng khoảng 03kg cho vào giỏ đựng gà rồi mang đến nhà T. Khoảng 08 giờ 44 phút cùng ngày, T cũng gọi điện cho Phạm Đức T5 bảo T5 vào nhà T xem “vần gà”. Trƣớc đó tối ngày 02/6/2023, anh Nguyễn Quang N1, sinh năm 1984, trú quán: Thôn Đ, xã N, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng gọi điện hỏi T5 ngày mai có “vần gà” không thì T5 bảo ngày mai cứ đi sang huyện Tứ Kỳ vì cuối tuần hay có chỗ “vần”. Sáng ngày 03/6/2023, anh Nguyễn Quang N1 cùng anh Đỗ Văn T4, Bùi Văn T1 đi sang huyện Tứ Kỳ. Trƣớc khi đi, anh T4 bắt 01 con gà chọi, loại gà trống, lông màu đỏ (Gọi là gà tía), chân mầu xanh của anh Quang, còn N cho vào giỏ đựng gà để mang theo. Cả ba đƣợc T5 gọi điện chỉ dẫn đi đến nhà T. Tại đây, Bùi Văn T1 nhận con gà chọi tía của anh Nguyễn Quang N1 để đá “vần” với con gà chọi ô của Phạm Hoài N. Phạm Hoài N và T1 thống nhất cá cƣợc đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng (Thường gọi là “bao trong”).
Cũng trong sáng ngày 03/6/2023, có Phạm Hoàng L, sinh năm 1996; Nguyễn Văn V, sinh năm 1969; Nguyễn Minh K, sinh năm 1981; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977, đều trú quán: thôn X, xã H; Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991, trú quán: Thôn Nghĩa Xá, xã Đại Sơn, huyện Tứ Kỳ; Trần Văn H, sinh năm 1989, trú quán: Thôn T2 Sơn; Đoàn Văn Th, sinh năm 1981, trú quán: Thôn Thiết Tái, đều thuộc xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ cùng các anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978; Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1977; Nguyễn Văn Đạt, sinh năm 1986, đều trú quán: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ; Nguyễn Văn S, sinh năm 1990, trú quán: Thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Sơn, huyện Tứ Kỳ đến nhà T xem đá gà. Quá trình xem đá gà, Phạm Hoài N, Bùi Văn T1 cùng Phạm Đức T5, Vũ Văn T, Nguyễn Văn H1, Phạm Hoàng L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh K, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H còn cá cƣợc với nhau (Thường gọi là “bao ngoài”). Các anh Đỗ Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn S chỉ xem, không tham gia cá cƣợc.
Hình thức cá cƣợc đá gà nhƣ sau: Mỗi trận sẽ cho 02 con gà chọi đá theo hiệp (gọi là hồ), mỗi hiệp 15 phút, sau đó sẽ cho gà nghỉ 05 phút rồi lại đá hiệp tiếp theo. Gà nào chạy hoặc chết hoặc chủ gà xin thua là thua và kết thúc trận chọi gà. Ngƣời thua phải trả cho ngƣời thắng số tiền cá cƣợc đã thống nhất với nhau trƣớc đó.
Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tƣợng sử dụng vào việc đánh bạc nhƣ sau:
- Đối với Phạm Hoài N:
+ Phạm Hoài N chọn gà của mình cá cƣợc với Bùi Văn T1 số tiền 1.000.000 đồng (nghĩa là người thua phải trả cho người thắng 1.000.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Hoài N và Bùi Văn T1 là 2.000.000 đồng.
+ Phạm Hoài N chọn gà của mình cá cƣợc với Phạm Đức T5 số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Hoài N và Phạm Đức T5 là 1.000.000 đồng.
+ Phạm Hoài N chọn gà của mình cá cƣợc với Nguyễn Văn T2 số tiền 500.000 đồng “ăn” 1.000.000 đồng (nghĩa là N thắng thì T2 phải trả cho N 1.000.000 đồng, nếu thua thì N phải trả cho T2 500.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Hoài N và Nguyễn Văn T2 là 1.500.000 đồng.
+ Phạm Hoài N cá cƣợc với Vũ Văn T số tiền 800.000 đồng “ăn” 1.000.000 đồng, trong đó N cho Nguyễn Văn H1 góp số tiền 500.000 đồng. Nếu N thắng thì T phải trả cho N số tiền 1.000.000 đồng (N sẽ chia cho H1 500.000 đồng). Nếu thua thì N phải trả cho T 800.000 đồng (gồm 300.000 đồng của N và 500.000 đồng của H1 góp). Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Hoài N và Vũ Văn T là 1.800.000 đồng.
Tổng số tiền Phạm Hoài N đánh bạc với Bùi Văn T1, Phạm Đức T5, Nguyễn Văn T2 và Vũ Văn T là: 6.300.000 đồng
- Đối với Phạm Đức T5:
+ Phạm Đức T5 chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Phạm Hoài N số tiền 500.000 đồng (nghĩa là ai thắng thì người thua phải trả cho người thắng 500.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Đức T5 và Phạm Hoài N là 1.000.000 đồng; cá cƣợc với Nguyễn Văn T2 số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Đức T5 và Nguyễn Văn T2 là 1.000.000 đồng; cá cƣợc với Đoàn Văn Th số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Đức T5 và Đoàn Văn Th là 1.000.000 đồng.
+ Phạm Đức T5 chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Trần Văn H số tiền 500.000 đồng “ăn” 1.000.000 đồng (nghĩa là nếu T5 thắng H phải trả cho T5 1.000.000 đồng, nếu thua T5 phải trả cho H 500.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Đức T5 và Trần Văn H là 1.500.000 đồng.
+ Phạm Đức T5 chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Nguyễn Minh K số tiền 1.000.000 đồng “ăn” 400.000 đồng (nghĩa là nếu T5 thắng K phải trả cho T5 400.000 đồng, nếu thua T5 phải trả cho K 1.000.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc Phạm Đức T5 và Nguyễn Minh K là 1.400.000 đồng.
Tổng số tiền Phạm Đức T5 đánh bạc với Phạm Hoài N, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H và Nguyễn Minh K là: 5.900.000 đồng.
- Đối với Vũ Văn T:
+ Vũ Văn T chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Phạm Hoài N số tiền 1.000.000 đồng “ăn” 800.000 đồng, trong đó T cho Nguyễn Văn T2 góp 500.000 đồng (nghĩa là nếu T thắng N phải trả cho T 800.000 đồng, T sẽ chia cho T2 400.000 đồng, nếu thua T phải trả cho N 1.000.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng của T2 góp). Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn T và Phạm Hoài N là 1.800.000 đồng.
+ Vũ Văn T chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Phạm Hoàng L số tiền 400.000 đồng “ăn” 500.000 đồng (nghĩa là nếu T thắng sẽ được L trả 500.000 đồng, nếu thua T phải trả cho L 400.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Vũ Văn T và Phạm Hoàng L là 900.000 đồng.
Tổng số tiền Vũ Văn T đánh bạc với Phạm Hoài N và Phạm Hoàng L là: 2.700.000 đồng.
- Đối với Bùi Văn T1:
+ Bùi Văn T1 chọn gà của mình cá cƣợc với Phạm Hoài N số tiền 1.000.000 đồng (nghĩa là ai thắng thì người thua phải trả cho người thắng 1.000.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Bùi Văn T1 và Phạm Hoài N là 2.000.000 đồng.
+ Bùi Văn T1 chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Nguyễn Văn H1 số tiền 500.000 đồng “ăn” 350.000 đồng, nghĩa là nếu T1 thắng thì H1 phải trả cho T1 350.000 đồng, nếu thua T1 phải trả cho H1 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Bùi Văn T1 và Nguyễn Văn H1 là 850.000 đồng.
Tổng số tiền Bùi Văn T1 đánh bạc với Phạm Hoài N và Nguyễn Văn H1 là: 2.850.000 đồng.
- Đối với Nguyễn Văn T2:
+ Nguyễn Văn T2 chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Phạm Hoài N số tiền 1.000.000 đồng “ăn” 500.000 đồng (nghĩa là nếu T2 thắng thì N phải trả cho T2 500.000 đồng, nếu thua thì T2 phải trả cho N 1.000.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn T2 và Phạm Hoài N là 1.500.000 đồng.
+ Nguyễn Văn T2 cá cƣợc với Phạm Đức T5 số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn T2 và Phạm Đức T5 là 1.000.000 đồng.
+ Nguyễn Văn T2 góp 500.000 đồng với Vũ Văn T để cá cƣợc với Phạm Hoài N số tiền 1.000.000 đồng “ăn” 800.000 đồng (nghĩa là nếu T thắng thì N phải trả cho T 800.000 đồng, T2 sẽ được chia 400.000 đồng. Nếu thua T phải trả cho N 1.000.000 đồng thì T2 phải góp 500.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn T2 đánh bạc là 900.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Văn T2 đánh bạc với Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 là: 3.400.000 đồng.
- Đối với Nguyễn Văn H1:
+ Nguyễn Văn H1 chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Bùi Văn T1 số tiền 350.000 đồng “ăn” 500.000 đồng, nghĩa là nếu H1 thắng T1 phải trả cho H1 500.000 đồng, nếu thua thì H1 phải trả cho T1 350.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn H1 và Bùi Văn T1 là 850.000 đồng.
+ Nguyễn Văn H1 góp 500.000 đồng với Phạm Hoài N để cá cƣợc số tiền 800.000 đồng “ăn” 1.000.000 đồng với Vũ Văn T, nghĩa là nếu N thắng thì T phải trả cho N số tiền 1.000.000 đồng, H1 sẽ đƣợc chia 500.000 đồng, nếu thua N phải trả cho T 800.000 đồng thì H1 phải góp 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn H1 là 1.000.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Văn H1 đánh bạc với Bùi Văn T1, Vũ Văn T là: 1.850.000 đồng.
- Đối với Phạm Hoàng L:
+ Phạm Hoàng L chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Vũ Văn T số tiền 500.000 đồng “ăn” 400.000 đồng, nghĩa là nếu L thắng thì T phải trả cho L số tiền 400.000 đồng, nếu thua thì L phải trả cho T số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Phạm Hoàng L và Vũ Văn T là 900.000 đồng.
- Đối với Đoàn Văn Th:
+ Đoàn Văn Th chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Phạm Đức T5 số tiền 500.000 đồng, nghĩa là ai thắng thì ngƣời thua phải trả cho ngƣời thắng 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Đoàn Văn Th và Phạm Đức T5 là 1.000.000 đồng.
- Đối với Trần Văn H:
+ Trần Văn H chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Phạm Đức T5 số tiền 1.000.000 đồng “ăn” 500.000 đồng, nghĩa là nếu H thắng thì T5 phải trả cho H số tiền 500.000 đồng, nếu thua H phải trả cho T5 số tiền 1.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Trần Văn H và Phạm Đức T5 là 1.500.000 đồng.
- Đối với Nguyễn Văn V:
+ Nguyễn Văn V chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Nguyễn Minh K số tiền 200.000 đồng “ăn” 500.000 đồng, nghĩa là nếu V thắng K phải trả cho V 500.000 đồng, nếu thua V phải trả cho K 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Văn V và Nguyễn Minh K là 700.000 đồng.
- Đối với Nguyễn Minh K:
+ Nguyễn Minh K chọn gà của Phạm Hoài N cá cƣợc với Phạm Đức T5 số tiền 400.000 đồng “ăn” 1.000.000 đồng, nghĩa là nếu K thắng T5 phải trả cho K 1.000.000 đồng, nếu thua K phải trả cho T5 400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Minh K và Phạm Đức T5 là 1.400.000 đồng.
+ Nguyễn Minh K chọn gà của Bùi Văn T1 cá cƣợc với Nguyễn Văn V số tiền 500.000 đồng “ăn” 200.000 đồng, nghĩa là nếu K thắng V phải trả cho K 200.000 đồng, nếu thua K phải trả cho V 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc Nguyễn Minh K và Nguyễn Văn V là 700.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Minh K đánh bạc với Phạm Đức T5 và Nguyễn Văn V là: 2.100.000 đồng.
Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của 11 đối tƣợng trên là: 13.650.000 đồng (gồm: 2.300.000 đồng (N) + 3.000.000 đồng (T5) + 900.000 đồng (T) + 1.500.000 đồng (T1) + 2.000.000 đồng (T2) + 850.000 đồng ( H1) + 500.000 đồng (L) + 500.000 đồng (Th) + 1.000.000 đồng (H) + 200.000 đồng (V) + 900.000 đồng (K)).
Đến 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi trận chọi gà đang diễn ra thì bị lực lƣợng Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện lập biên bản vụ việc, quản lý vật chứng gồm: 02 con gà chọi đang đá bên trong cót, gồm: 01 con gà chọi có khối lƣợng 3,3kg, lông màu ô, chân màu vàng và 01 con gà chọi có khối lƣợng 3,1kg, lông màu tía, chân màu xanh; 01 tấm cót bằng xốp màu đen, kích thƣớc (825x55x2)cm, dùng quây để đá gà; 01 cân đồng hồ mầu xanh loại 5kg; 01 đồng hồ đề chữ Diamond; 02 giỏ dùng để đựng gà; 01 hộp kim loại mầu trắng kích thƣớc (18,5x8,5x4) cm bên trong có 01 kim; 01 cuộn chỉ màu trắng; 01 cuộn băng dính màu đỏ; 01 lọ keo con voi 502; 01 kéo mầu trắng bằng kim loại; 01 kéo mầu trắng có chuôi cầm bằng nhựa mầu đen. Phạm Hoài N tự nguyện giao nộp 84.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max lắp sim số 0337.862..... T5 tự nguyện giao nộp 450.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0979.002.155. Nguyễn Văn H1 tự nguyện giao nộp 2.990.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XR lắp sim số 0339.083..... Phạm Hoàng L tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max lắp sim số 0344.777..... Nguyễn Văn V tự nguyện giao nộp 7.320.000 đồng và 01 điện thoại Oppo Reno7 lắp sim số 0912.454..... Nguyễn Minh K tự nguyện giao nộp 6.050.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung A21 lắp sim số 0559.274..... Nguyễn Văn T2 tự nguyện giao nộp 5.460.000 đồng. Đoàn Văn Th tự nguyện giao nộp 4.640.000 đồng và 01 điện thoại Oppo Reno7 lắp 2 sim số 0973.585.... và số 0984.074.581. Trần Văn H tự nguyện giao nộp 200.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XS Max lắp sim số 0961.865..... Bùi Văn T1 tự nguyện giao nộp 1.000.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0981.299..... Anh Nguyễn Văn H2 tự nguyện giao nộp 5.570.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6 lắp sim số 0986.846..... Anh Nguyễn Quang N1 tự nguyện giao nộp 520.000 đồng và 01 điện thoại Iphone Xs Max lắp sim số 0934.365...... Anh Nguyễn Văn Nh tự nguyện giao nộp 2.250.000 đồng và 01 điện thoại Oppo A1K lắp sim số 0984.876..... Anh Nguyễn Văn S tự nguyện giao nộp 230.000 đồng và 01 điện thoại Iphone X lắp sim số 0387.328..... Anh Đỗ Văn T4 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0762.400....
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKSTK ngày 10/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 BLHS; các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Vũ Văn T; khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo N, T5; khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo T5; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với các bị cáo T, N, T5.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 13 đến 15 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N từ 07 đến 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T5 từ 06 đến 08 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Hoài N cho UBND xã Hƣng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, bị cáo Phạm Đức T5 cho UBND xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS đối với các bị cáo N, T5, phạt các bị cáo N, T5 mỗi bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 13.650.000 đồng các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 và các đối tƣợng liên quan Bùi Văn T1, Nguyễn Văn H1, Phạm Hoàng L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh K, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H đã sử dụng vào việc đánh bạc.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tấm cót bằng xốp màu đen, kích thƣớc (825x55x2)cm; 01 (Một) cân đồng hồ mầu xanh loại 5kg; 01 (Một) đồng hồ đề chữ Diamond; 02 (Hai) giỏ dùng để đựng gà đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp kim loại mầu trắng kích thƣớc (18,5x8,5x4)cm bên trong có 01 (Một) kim, 01 (Một) cuộn chỉ màu trắng, 01 (Một) cuộn băng dính màu đỏ; 01 (Một) lọ keo con voi 502, 01 (Một) kéo mầu trắng bằng kim loại, 01 (Một) kéo mầu trắng có chuôi cầm bằng nhựa mầu đen; 01 sim số 0337.862.... của Phạm Hoài N; 01 sim số 0979.002....của Phạm Đức T5; Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách nhà nƣớc 01 (Một) điện thoại Iphone 12 Pro Max của Phạm Hoài N; 01 (Một) điện thoại Iphone 8 của Phạm Đức T5;
Về án phí: Các bị cáo N, T5 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
Tại phiên tòa, luật sƣ bào chữa cho bị cáo T, bà Đinh Thị Hòa xác định VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo về tội danh là chính xác. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có anh trai là liệt sĩ và đang thờ cùng liệt sĩ, tuổi thật của bị cáo đã trên 70 tuổi, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, o khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hƣởng án treo và xử dƣới mức án của khung hình phạt. Bị cáo T nhất trí với bài bào chữa và không bổ sung gì thêm.
Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 03/6/2023, tại nhà ở của Vũ Văn T ở thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Vũ Văn T đã có hành vi dùng nhà ở của mình cho Phạm Hoài N, Phạm Đức T5, Bùi Văn T1, Nguyễn Văn H1, Phạm Hoàng L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh K, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H đánh bạc với hình thức chơi đá gà đƣợc thua bằng tiền và trực tiếp tham gia cá cƣợc bao ngoài đƣợc thua bằng tiền với Phạm Hoài N và Phạm Hoàng L. Tổng số tiền các bị cáo và những ngƣời có liên quan sử dụng vào việc đánh bạc 13.650.000 đồng. Trong đó tổng số tiền Phạm Hoài N đánh bạc với Bùi Văn T1, Phạm Đức T5, Nguyễn Văn T2, Vũ Văn T là 6.300.000 đồng; Phạm Đức T5 đánh bạc với Phạm Hoài N, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H và Nguyễn Minh K là 5.900.000 đồng. Khi các đối tƣợng đang đánh bạc đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lƣợng Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện, thu giữ cùng vật chứng.
Các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 đều là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong đó Vũ Văn T nhận thức rõ hành vi dùng nhà ở thuộc quyền quản lý, sở hữu của mình cho các bị cáo và những đối tƣợng khác đánh bạc là trái phép, Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhƣng vì vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Do Vũ Văm T có hành vi dùng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 ngƣời đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 BLHS; Bị cáo Phạm Hoài N đánh bạc với các đối tƣợng khác theo cặp với tổng số tiền 6.300.000 đồng; Phạm Đức T5 đánh bạc với các đối tƣợng khác theo cặp với tổng số tiền 5.900.000 đồng đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Vì vậy, VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo về các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Tài liệu điều tra còn thể hiện: Tối ngày 02/6/2023, Nguyễn Quang N1 gọi điện cho T5 hỏi ngay mai có vần gà không, sau khi T5 trả lời mai cứ sang vì cuối tuần hay có vần gà. Sáng ngày 03/6/2023, Nguyễn Quang N1 cùng Đỗ Văn T4, Bùi Văn T1 đi sang huyện Tứ Kỳ, trƣớc khi đi, T4 mang theo con gà chọi tía của Quang N1 và cùng T4, T1 sang nhà T. Tại đây, Nguyễn Quang N1 cho T1 mƣợn gà để đá chọi với gà của Phạm Hoài N đồng thời biết việc hai con gà đá chọi với nhau để các đối tƣợng khác cá cƣợc đƣợc thua bằng tiền nhƣng vẫn cho mƣợn công cụ, phƣơng tiện sử dụng vào việc đánh bạc trái phép. Do đó hành vi của Nguyễn Quang N1 có dấu hiệu đồng phạm tội đánh bạc với vai trò giúp sức nhƣng chƣa đƣợc xem xét xử lý. Tòa án đã Quyết định trả hồ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ để điều tra bổ sung tại Quyết định số: 04/2023/HSST-QĐ ngày 17/11/2023, nhƣng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 10/10/2023. Căn cứ vào khoản 1 Điều 298 của BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử, Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và tiếp tục kiến nghị với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp tục xém xét, xử lý hành vi cho mƣợn gà của Nguyễn Quang N1 theo đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an xã hội ở địa phƣơng. Do vậy, cần xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Đây là vụ án có hai tội danh và ở tội đánh bạc có đồng phạm giản đơn theo cặp, không có sự câu kết chặt chẽ, nhƣng cũng cần đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo phong vụ án để có mức hình phạt tƣơng xứng, trong đó: Vũ Văn T dùng nơi ở, quản lý của mình để cho các đối tƣợng khác đánh bạc nên T phải chịu trách nhiệm độc lập về tội “Tổ chức đánh bạc”; Ở tội đánh bạc: Phạm Hoài N là ngƣời chuẩn bị gà chọi ô, là ngƣời cho gà vào cót, ghép đá với gà chọi tía và trực tiếp cá cƣợc bao trong với T1, cá cƣợc đá bao ngoài với Phạm Đức T5, Nguyễn Văn T2, Vũ Văn T (trong đó cho Nguyễn Văn H1 góp 500.000 đồng) với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.300.000 đồng nên bị cáo giữ vai trò tích cực. Bị cáo Phạm Đức T5 nhận gà của T1 trực tiếp tham gia cá cƣợc bao ngoài với Phạm Hoài N, Nguyễn Văn T2, Đoàn Văn Th, Trần Văn H và Nguyễn Minh K với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 5.900.000 đồng nên giữ vai trò đồng phạm thực hành.
Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Vũ Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính đều liên quan đến hành vi đánh gạc vào các năm 2000 và 2016, nhƣng đều đã chấp hành xong các quyết định xử phạt từ lâu, ngày 07/9/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính (nhƣng trong cùng vụ án này) đƣợc xác định không có tiền sự. Các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N, T5 phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo T5 có bố đẻ tham gia kháng chiến đƣợc tặng thƣởng huân huy chƣơng, bị cáo T có anh trai là liệt sĩ và là ngƣời đang thờ cúng liệt sĩ nên cả hai bị cáo đều đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS; vì vậy, HĐXX sẽ xem xét khi lƣợng hình với các bị cáo cho phù hợp.
Đối với ý kiến của ngƣời bào chữa cho bị cáo T đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS vì tuổi thật của ông T đã trên 70 tuổi thấy và áp dụng Điều 54 BLHS xử dƣới khung hình phạt thấy rằng: Căn cứ vào các giấy tờ tuy thân nhƣ căn cƣớc công dân điều thể hiện ông T, sinh năm 1955, đến ngày phạm tội chƣa đủ 70 tuổi, ngoài tài liệu trên thì không còn tài liệu gì khác, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì không có căn cứ xử bị cáo dƣới khung hình phạt. Do đó đề nghị của luật sƣ là không có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo Vũ Văm T phạm tội độc lập có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuổi đã cao (gần 70 tuổi) và có bệnh lý nền viêm phổi tắc nghẽn mãn tính; Bị cáo N, T5 đều có nhân thân tốt và đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều có nơi cƣ trú ổn định. Vì vậy bị cáo T, N, T5 chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hƣởng án treo, giao các bị cáo về cho chính quyền địa phƣơng quản lý, giám sát trong thời gian đƣợc hƣởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành ngƣời tốt và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài việc áp dụng hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo N, T5 theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T là ngƣời cao tuổi, hiện không có nghề nghiệp thu nhập. Vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Vũ Văn T.
Tham gia đánh bạc trong cùng vụ án còn có Phạm Hoàng L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Minh K, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn H1, Trần Văn H, Đoàn Văn Th, Bùi Văn T1, Vũ Văn T. Tuy nhiên số tiền đánh bạc của những ngƣời trên đều dƣới mức 5.000.000 đồng và chƣa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không cấu thành tội phạm. Ngày 07/9/2023, Công an huyện Tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, V, K, T2, H1, H, Th, T1, T là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 và những ngƣời khác giao nộp, cụ thể Phạm Hoài N: 84.000 đồng; Phạm Đức T5 450.000 đồng; Bùi Văn T1: 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn T2 5.460.000đồng; Đoàn Văn Th 4.640.000 đồng; Trần Văn H 200.000đồng; Nguyễn Văn V 7.372.000 đồng, Nguyễn Minh K 6.050.000 đồng; Nguyễn Văn H1 2.990.000 đồng đã xác định số tiền các bị cáo và những ngƣời trên sử dụng vào việc đánh bạc nhƣ sau: Phạm Hoài N sử dụng 2.300.000 đồng, Phạm Đức T5 sử dụng 3.000.000 đồng, Bùi Văn T1 sử dụng 1.500.000 đồng, Nguyễn Văn T2 sử dụng 2.000.000 đồng, Phạm Hoàng L sử dụng 500.000 đồng, Đoàn Văn Th sử dụng 500.000 đồng, Trần Văn H sử dụng 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn V sử dụng 200.000 đồng, Nguyễn Minh K sử dụng 900.000 đồng, Nguyễn Văn H1 sử dụng 850.000 đồng, Vũ Văn T sử dụng 900.000 đồng. Đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nƣớc. Sau khi đối trừ số tiền các bị cáo và những ngƣời trên đã giao nộp, còn thừa sẽ trả lại, tH phải tịch thu bổ sung, Vũ Văn T chƣa nộp số tiền đã đánh bạc nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 promax của Phạm Hoài N, chiếc điện thoại Iphone 8 của Phạm Đức T5 không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo. Đối với số tiền 5.570.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6 lắp sim số 0986.846.... của anh Nguyễn Văn H2; Số tiền 520.000 đồng và 01 điện thoại Iphone Xs Max lắp sim số 0934.365..... của anh Nguyễn Quang N1; Số tiền 2.250.000 đồng và 01 điện thoại Oppo A1K lắp sim số 0984.876.... của anh Nguyễn Văn Nh; Số tiền 230.000 đồng và 01 điện thoại Iphone X lắp sim số 0387.328.... của anh Nguyễn Văn S; 01 điện thoại Iphone 8 lắp sim số 0762.400....của anh Đỗ Văn T4; 01 điện thoại Iphone XR lắp sim số 0339.083.... của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max lắp sim số 0344.777.... của Phạm Hoàng L; 01 điện thoại Oppo Reno7 lắp sim số 0912.454.... của Nguyễn Văn V; 01 điện thoại Samsung A21 lắp sim số 0559.274.... của Nguyễn Minh K; 01 điện thoại Oppo Reno7 lắp 2 sim số 0973.585.... và số 0984.074.581 của Đoàn Văn Th; 01 điện thoại Iphone XS Max lắp sim số 0961.865.... do Trần Văn H; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max lắp sim số 0981.299.... của Bùi Văn T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra giải quyết.
Đối với 01 tấm cót bằng xốp màu đen, kích thƣớc (825x55x2)cm, dùng quây để đá gà; 01 cân đồng hồ mầu xanh loại 5kg; 01 đồng hồ đề chữ Diamond; 02 giỏ dùng để đựng gà; 01 hộp kim loại mầu trắng kích thƣớc (18,5x8,5x4)cm bên trong có 01 kim; 01 (Một) cuộn chỉ màu trắng; 01 cuộn băng dính màu đỏ; 01 lọ keo con voi 502; 01 kéo mầu trắng bằng kim loại; 01 kéo mầu trắng có chuôi cầm bằng nhựa mầu đen. Đây là công cụ, phƣơng tiện các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 con gà chọi sau khi quản lý đƣa về trụ sở Công an đã bị chết nên Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy nên không đặt ra xử lý. Đối với các anh Đỗ Văn T4, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn S xem đá gà không tham gia đánh bạc, bà Phạm Thị B (Là vợ bị cáo Vũ Văn T) không biết việc các đối tƣợng đánh bạc tại nhà mình nên không phải chịu trách nhiệm.
Về án phí: Các bị cáo T, N, T5 phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo T là ngƣời cao tuổi đƣợc miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Vũ Văn T; khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo N, T5; khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo N, T5; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với các bị cáo T, N, T5;
1. Tuyên bố: bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.2. Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 09 (Chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.3. Xử phạt bị cáo Phạm Đức T5 08 (Tám) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Vũ Văn T, Phạm Hoài N cho UBND xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, bị cáo Phạm Đức T5 cho UBND xã T, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 BLHS đối với các bị cáo N, T5. Phạt tiền các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Vũ Văn T.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
- Tịch thu số tiền các bị cáo và những ngƣời có liên quan đã giao nộp gồm: 84.000 đồng của Phạm Hoài N; 450.000 đồng của Phạm Đức T5; 1.000.000 đồng của Bùi Văn T1; 2.000.000 đồng của Nguyễn Văn T2, 500.000 đồng của Đoàn Văn Th; 1.000.000 đồng của Trần Văn H; 900.000 đồng của Nguyễn Minh K; 850.000 đồng của Nguyễn Văn H1 nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc.
- Trả lại Nguyễn Văn T2 3.460.000 đồng, Đoàn Văn Th 4.140.000 đồng, Nguyễn Văn V 7.172.000 đồng, Nguyễn Minh K 6.050.000 đồng; Nguyễn Văn H1 2.140.000 đồng.
- Truy thu của Phạm Hoài N số tiền 2.216.000 đồng; Phạm Đức T5 2.550.000 đồng, Vũ Văn T 900.000 đồng, Bùi Văn T1 500.000 đồng, Phạm Hoàng L 500.000 đồng, Trần Văn H 800.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nƣớc (Các bị cáo và những ngƣời trên chƣa nộp số tiền trên);
Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh, màn hình bị xƣớc, mặt sau bị vỡ (không kiểm tra chất lƣợng máy) kèm 01 sim điện thoại số 0337.862.... cho Phạm Hoài N, 01 điện thoại Iphone 8 màu đen đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lƣợng máy) kèm 01 sim điện thoại số 0979.002....cho Phạm Đức T5.
- Tịch thu tiêu hủy 01 tấm cót bằng xốp màu đen, kích thƣớc (825x55x2)cm, dùng quây để đá gà; 01 cân đồng hồ mầu xanh loại 5kg; 01 đồng hồ đề chữ Diamond; 02 giỏ dùng để đựng gà; 01 hộp kim loại mầu trắng kích thƣớc (18,5x8,5x4)cm bên trong có 01 kim; 01 (Một) cuộn chỉ màu trắng; 01 cuộn băng dính màu đỏ; 01 lọ keo con voi 502; 01 kéo mầu trắng bằng kim loại; 01 kéo mầu trắng có chuôi cầm bằng nhựa mầu đen;
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 13-10-2023).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS đối với các bị cáo; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Toà án đối với các bị cáo N, T5; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án đối với bị cáo T. Các bị cáo Phạm Hoài N, Phạm Đức T5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Văn T
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự huyện Tứ Kỳ - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Tứ Kỳ; - Các bị cáo; - Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND xã H, huyện Tứ Kỳ; - UBND xã T, huyện Thanh Miện; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |