- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 19-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Phúc.
Ông Nguyễn Văn Sĩ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/TB-TA ngày 21/12/2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 15/01/2024, đối với bị cáo:
Hồ Ngọc V, sinh ngày 20/8/1995; tên gọi khác: Không; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh S, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32/LCĐKNCT, ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Công an huyện T, có mặt.
- Bị hại: Lê Văn H, sinh năm 1942 (chết).
Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Lê Văn H:
1. Lê Thị L, sinh năm 1957 (cháu ruột).
2. Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Lê Thị L ủy quyền lại cho Nguyễn Văn H1 theo giấy ủy quyền ngày
09/6/2023), có đơn xin vắng mặt.
2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963 (cháu ruột), có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Võ Văn P, sinh năm 1963, có đơn xin vắng mặt.
2. Bùi Thị N1, sinh năm 1966, có đơn xin vắng mặt.
3. Thạch S1, sinh năm 1969, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
4. Hồ Văn G, sinh năm 1964, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố E, T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở hiện tại: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
5. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1982, vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 35 phút, ngày 05/6/2023 Hồ Ngọc V có giấy phép lái xe hạng D theo quy định, điều khiển xe ô tô khách loại 29 chỗ ngồi, nhãn hiệu THACOWN, tên nhà xe M, biển số 66B-005.83 để rước khách thuê đi đến sân bay Tân Sân N thành phố Hồ Chí Minh đón người thân. Sau khi đến chợ xã A rước Đinh Minh T1, Trần Thị Đỗ Q, Đỗ Ngọc Tường V1, Đỗ Ngọc Đông N2, V điều khiển xe ô tô khách đi từ ngã 3 xã A đến thị trấn T, vừa qua cầu K khoảng 170 mét đoạn đường thuộc ấp C, xã P, huyện T, V thấy một xe ô tô loại 4 chỗ ngồi chạy hướng ngược lại có tín hiệu xin nhường đường nên điều khiển xe vào lề bên phải hướng đi, sau đó điều khiển xe ra lại tim đường thì va chạm vào thanh cản bên phải phía trước của xe ba gác tự chế (không có biển số) của ông Võ Văn P đang đỗ đầu xe bên trong lề, thùng xe sát lề đường, trước quán nước của bà Bùi Thị N1 theo hướng xe ô tô khách di chuyển, làm xe ba gác trượt về phía sau, lật úp lại trúng vào vùng đầu ông Lê Văn H đang ngồi uống nước bên trong lề đường phía sau xe ba gác cách khoảng 1 mét, làm ông H té nằm sắp dưới nền bê tông trước cửa quán nước bất tỉnh, xe ba gác tiếp tục lật úp trượt về sau trúng vào xe đạp bán sôi của bà Thạch S1 và trúng vào xe bán nước mía, 02 ghế và 01 bàn nhựa của bà N1 gây hư hỏng. Xe khách sau khi va chạm tiếp tục chạy được một đoạn đường khoảng 15 đến 20 mét thì dừng lại sát vào lề đường bên phải theo hướng di chuyển nhưng do cửa xe ô tô khách bị hỏng không mở được nên V điện thoại cho ông Hồ Văn G là chủ nhà xe ô tô khách biển số 66B-005.83 thuê thợ vào sửa cửa và trình báo sự việc.
Ông H được đưa đến Trạm y tế xã A cấp cứu, sau đó tử vong khi trên đường chuyển đến Bệnh viện Đ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô khách loại 29 chỗ ngồi, nhãn hiệu THACOWN, tên nhà xe M, biển số 66B-005.83 đã qua sử dụng; 01 xe đạp bị hư hỏng nặng của bà Thạch S1; 01 xe ba gác không biển số, đã qua sử dụng của ông Võ Văn P.
Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra vụ việc là đường thẳng, hai chiều, thông thoáng, không bị hạn chế tầm nhìn, mặt đường trải nhựa rộng 6m50. Lấy trụ điện số 23A làm điểm mốc và chọn lề đường bên phải theo hướng xã A đi đến xã P, huyện T làm lề chuẩn. Ký hiệu “số 1” là vùng va chạm giữa xe ba gác với xe khách biển số xe 66B-005.83, đo vào lề là 0m40, cách trụ điện số 23A 22m10; Ký hiệu “số 2” là vị trí xe ba gác ngã, trục trước xe đo ra lề 0m80; trục sau đo ra lề 0m50, cách “số 1” 3m45; Ký hiệu “số 3” là vị trí xe đạp ngã, trục trước đo vào lề 0m20; trục sau nằm trên lề chuẩn, trục trước “số 3” cách trục trước “số 2” 0m10; Ký hiệu “số 4” là vị trí dừng của xe ô tô khách biển số 66B-005.83, trục trước đo vào lề 1m, trục sau đo vào lề 1m20, hai trục cách nhau 3m90, trục sau “số 4” cách trục sau “số 3” 4m30.
Biên bản khám nghiệm xe ô tô khách biển số 66B-005.83 thể hiện: Đầu xe trước bên trái dính dấu vết màu đỏ, vị trí cao nhất cách mặt đất là 90cm, dấu vết dài 1m45, rộng 13cm, cuối dấu vết các mặt đất là 97cm; Đèn, còi, phanh tay, phanh chân còn tác dụng; phương tiện không bị hư hỏng, hoạt động bình thường.
Biên bản khám nghiệm xe ba gác (không biển số) thể hiện: Đầu thùng xe bên phải cày mòn kim loại, bị cong gẫy và biến dạng kích thước 65cm x 15cm; đầu gác chân bên phải cày mòn kim lọi 1cm x 1 cm; kính đèn xe bị bể.
Biên bản khám nghiệm xe đạp thể hiện: Bánh trước bị hư hỏng nặng.
Bản kết luận giám định tử thi số: 618/KLGĐTT-KTHS, ngày 08/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: thương tích và nguyên nhân chết của ông Lê Văn H như sau: Đa chấn thương nhiều vùng trên cơ thể, bầm tụ máu dưới da cơ vùng đỉnh – chẩm hai bên, nứt xương sọ phức tạp, dập xuất huyết não. Ông Lê Văn H bị chấn thương nặng vùng đầu làm nứt xương sọ phức tạp gây dập, xuất huyết toàn bộ hai bên bán cầu đại não là nguyên nhân tử vong.
Tại phiếu đo nồng độ cồn, kết quả không phát hiện thành phần cồn trong cơ thể V.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 06/6/2023 của Công an huyện T, kết luận âm tính với chất ma túy trong cơ thể V.
Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKSTN ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc V, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mức án từ 01 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 04 năm. Tình tiết tăng nặng: Không. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng và các vấn đề khác: Giữ nguyên theo Cáo trạng.
- Bị cáo Hồ Ngọc V khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 05/6/2023 và Bản ảnh hiện trường của Công an huyện T; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 05/6/2023 đối với xe đạp, xe ô tô khách biển kiểm soát số 66B-00583, xe ba gác; Biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi ngày 05/6/2023 và Bản ảnh của Công an huyện T; Bản kết luận giám định tử thi số: 618/KLGĐTT-KTHS, ngày 08/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ; Lời khai đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ 35 phút, ngày 05/6/2023 bị cáo Hồ Ngọc V có giấy phép lái xe hạng D theo quy định, điều khiển xe ô tô khách loại 29 chỗ ngồi, nhãn hiệu THACOWN, biển số 66B-005.83 đến đoạn đường thuộc ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông dẫn đến bị cáo điều khiển xe ô tô khách nêu trên va chạm vào thanh cản bên phải phía trước của xe ba gác tự chế (không có biển số) của ông Võ Văn P đang đỗ đầu xe bên trong lề, thùng xe sát lề trước quán nước của bà Bùi Thị N1 theo hướng xe ô tô khách di chuyển, làm xe ba gác trượt về phía sau, lật úp trúng vào vùng đầu ông Lê Văn H đang ngồi uống nước bên trong lề đường phía sau xe ba gác cách khoảng 1 mét. Hậu quả làm ông Lê Văn H tử vong trên đường đi cấp cứu.
Nguyên nhân, do bị cáo V điều khiển xe ô tô khách thiếu chú ý quan sát đã vi phạm Luật giao thông đường bộ quy định tại khoản 23 Điều 8 là “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn giao thông ở địa phương nói riêng, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông chưa cao và cẩu thả khi điều khiển xe,…Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông, xử lý nghiêm các lỗi vi phạm của người tham gia giao thông nhằm giảm tối đa số vụ tai nạn giao thông và hậu quả do tai nạn giao thông gây ra. Bản thân bị cáo có đủ năng lực hành vi nhận thức được điều này; tuy nhiên do cẩu thả không chấp hành đúng quy định pháp luật giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm chết Lê Văn H. Hành vi của bị cáo thật đáng phê phán, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả xong cho gia đình bị hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22/11/2023 đại diện bị hại xin cho bị cáo hưởng án treo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình, mẹ bị cáo đang bị bệnh về thần kinh (theo xác nhận ngày 24/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) và nuôi người em là sinh viên theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định pháp luật. Tình tiết tăng nặng: Không.
Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý không thấy trước được hậu quả xảy ra và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật đã nêu trên nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cho bị cáo hưởng án treo giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe bị cáo trở thành công dân tốt là phù hợp theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, xét thấy bản thân bị cáo làm nghề tài xế thu nhập thấp nên không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo V đã bồi thường tiền mai táng phí, điều trị, ngày công lao động và các chi phí khác theo quy định pháp luật cho đại diện bị hại tổng số tiền là 80.000.000đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo đã bồi thường cho ông Võ Văn P đối với xe ba gác bị hư hỏng số tiền là 5.000.000đồng và đã bồi thường cho bà Thạch S1 đối với xe đạp đã bị hư hỏng số tiền 1.000.000đồng, ông P và bà Thạch S1 không yêu cầu gì thêm.
Đối với bà Bùi Thị N1 tài sản bị hư hỏng gồm 2 ghế và 1 bàn nhựa, xe bán nước mía bị hư hỏng phần nhôm phía trước, bà N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Đối với số tiền bồi thường cho ông P, bà S1 và đại diện gia đình bị hại, ông G không yêu cầu bị cáo V trả lại nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe ô tô khách loại 29 chỗ ngồi, nhãn hiệu THACOWN, tên nhà xe M, biển số 66B-005.83; 01 xe đạp bị hư hỏng nặng. Trong quá trình điều tra đã trả lại xe ô tô khách nêu trên cho chủ sở hữu là ông Hồ Văn G và trả lại xe đạp cho bà Thạch S1 nhận lại xong, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Đối với 01 xe ba gác không biển số, đã qua sử dụng. Xét thấy, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của ông Võ Văn P nhưng xe không biển số và không có giấy đăng ký xe theo quy định chưa rõ nguồn gốc nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi đậu xe của ông Võ Văn P chủ xe ba gác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã làm văn bản số: 11/CSĐT-ĐTTH, ngày 11/01/2024 gửi Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện T xử lý theo quy định pháp luật nên không xem xét.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc V: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/01/2024).
Giao bị cáo Hồ Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục tạm giữ để làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật: 01 (một) xe ba gác không biển số đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Hồ Ngọc V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Tam Nông; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Nông; - Cơ quan THAHS Công an huyện Tam Nông; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Nông; - Chi cục THADS huyện Tam Nông; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Hùng Cường |