- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ng V Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 16 - 01- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Văn Bảy
2. Ông Hồ Đức Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở UBND xã Yên Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với:
Bị cáo Ng V Th, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1985 tại xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện S, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); vợ Trần Thị Th và có 03 con; tiền án; tiền sự: Không. Nhân thân bị cáo: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2018/HSST ngày 26/8/2018, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nộp án phí ngày 26/8/2018, chấp hành xong hình phạt tù 29/4/2020, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại đường tỉnh lộ 302 khu vực bến xe Buýt gần cổng Trung tâm y tế huyện Tam Đảo thuộc thôn Núc Hạ, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Tam Đảo phối hợp với Công an xã Hồ Sơn phát hiện, bắt quả tang Ng V Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng tại tay phải của Th 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng, Th khai nhận đây là gói ma túy Heroine vừa mua được với giá 200.000đ mục đích để sử dụng.
Tại kết luận giám định số 2224/KLGĐ-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2346g (Không phảy hai ba bốn sáu gam, không kể bao bì) loại Heroine. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,2052 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Về nguồn gốc ma túy, Th khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 11/8/2023, Th đang chơi ở thôn Núc Hạ, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc thì muốn sử dụng chất ma túy, nên Th đi bộ ra khu vực bến xe buýt gần cổng Trung tâm y tế huyện Tam Đảo thuộc thôn Núc Hạ, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo Đảo để tìm mua ma túy. Tại đây, Th mua được của một người đàn ông khoảng gần 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ mục đích để sử dụng. Sau khi mua được gói ma túy, Th cầm gói ma túy ở tay phải đang đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Tam Đảo phát hiện, bắt quả tang.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Th, do Th khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 71/VKSTĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Ng V Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ng V Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ng V Th từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là con nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định 0,2052 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Ng V Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại đường tỉnh lộ 302 khu vực bến xe Buýt gần cổng Trung tâm y tế huyện Tam Đảo thuộc thôn Núc Hạ, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Tam Đảo phối hợp với Công an xã Hồ Sơn phát hiện, bắt quả tang Ng V Th có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, có khối lượng là 0,2346g, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Ng V Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 0,5gam;...”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, là tệ nạn cần loại bỏ ra khỏi xã hội bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe, giống nòi và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo là người trưởng Th có đủ nhận thức tác hại của ma túy, đã từng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam một thời gian nhưng đã không cải tạo tốt và còn mắc nghiện ma túy. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử lưu động tại địa phương nhằm tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân về tác hại của ma túy đồng thời xử phạt nghiêm minh đối với hành vi vi phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng hình phạt bị cáo không có. Về nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” năm 2018, đã chấp hành xong năm 2020 và được xóa án tích nên không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là con nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với số mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định là M1 = 0,2052 gam và toàn bộ bao gói.
Đối với người bán ma túy cho Ng V Th, bị cáo không biết tên và địa chỉ cụ thể của người này, ngoài lời khai của Th, Cơ quan điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.
Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Ng V Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Ng V Th 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2023.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với số mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định là M1= 0,2052 và toàn bộ bao gói.
(Vật chứng trên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan Công an huyện Tam Đảo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ng V Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Tam Đảo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - UBND xã Tân Lập, huyện Sông Lô; - Bị cáo; - Lưu HS; VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Trần Thị Hồng Quý |