- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Văn L - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hà Văn L 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/8/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 23 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
2/ Ông Lương Văn Duấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2023/TLST – HS ngày 12 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1991 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản N, xã CN, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H và bà Hoàng Thị Q; có vợ là Lê Thị V (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Ngày 28/6/2021 bị TAND huyện QC, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/6/2022 (chưa hết thời hạn được xem là đã xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2019 bị TAND huyện QC, tỉnh Nghệ An ra Quyết định ADBPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng, đã chấp hành xong biện pháp vào ngày 23/8/2020; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 đến nay. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 22/8/2023 Hà Văn L đi nhờ xe của người dân từ nhà ở bản N, xã CN, huyện QC, tỉnh Nghệ An ra đường quốc lộ B bắt xe
1
khách lên huyện QP, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm mua ma túy về bán lại cho những người nghiện để kiếm lời. Khi đến khu vực xã M, huyện QP thì L xuống xe khách đi bộ, trên đường đi gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện của người nghiện chất ma túy nên L hỏi, biết người đàn ông có ma túy nên đã hỏi mua với số tiền 9.000.000đ (Chín triệu đồng) được 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy L cất vào trong túi quần đang mặc rồi bắt xe khách trở về nhà, về tới nhà L lấy gói ma túy mua được chia thành 42 gói, trong đó có 40 gói nhỏ đều nhau được bọc bằng mảnh giấy màu trắng và 02 gói lớn hơn được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng, sau đó L cất 40 gói nhỏ bọc bằng mảnh giấy màu trắng vào trong hộp nhựa để trên kệ gỗ ở gần giường ngủ trong phòng, 02 gói lớn hơn bọc bằng bao nilon màu trắng cất giấu trong túi áo bò bên phải được treo trong tủ quần áo tại gian phòng khách.
Chiều tối 24/8/2023 khi L đang ở nhà thì có một nam thanh niên không rõ lai lịch đến hỏi mua ma túy để sử dụng với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), L đồng ý bán cho nam thanh niên 02 gói nhỏ được bọc bằng mảnh giấy màu trắng. Khoảng 8 giờ sáng ngày 25/8/2023 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về dấu hiệu hoạt động tội phạm tại nhà ở của Hà Văn L, tổ công tác Công an huyện Quỳ Châu phối hợp với Công an xã CN tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, trong lúc kiểm tra Hà Văn L đã tự nguyện lấy 38 gói nhỏ còn lại trong hộp nhựa để tại kệ gỗ gần giường ngủ, tất cả đều được bọc bằng mảnh giấy màu trắng và 02 gói được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng để trong túi áo bò bên phải treo trong tủ ở gian khách, bên trong các gói đều có chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), ngoài ra còn tự nguyện giao nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) L khai nhận do bán ma túy trước đó mà có. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở tiếp tục điều tra làm rõ hành vi phạm tội.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 25/8/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xác định bên trong gói niêm phong thứ nhất có: - 38 (Ba mươi tám) gói đều được gỏi bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), (38 gói này được Hà Văn L chia ra từ một gói ma túy lớn do L mua trước đó) (Ký hiệu M1).
Bên trong gói niêm phong thứ hai có 02 (Hai) gói đều được gói bằng mảnh bao ni lông màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy) (Ký hiệu M2, M3).
Sau khi loại bỏ bao gói, cân trọng lượng chất bột rắn màu trắng trong 38 gói được bọc bằng mảnh giấy màu trắng (ký hiệu M1) có tổng khối lượng là 3,4g (Ba phẩy bốn gam) cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,4g (Không phẩy bốn gam) để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy; Chất bột rắn màu trắng trong gói thứ hai (ký hiệu M2) có khối lượng là 6g (Sáu gam) cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,5g (Không phẩy năm gam) để gửi giám định khối lượng
2
và định tính chất ma túy; Chất bột rắn màu trắng trong gói thứ ba (ký hiệu M3) có khối lượng là 7,7g (Bảy phẩy bảy gam) cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,7g (Không phẩy bảy gam) để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại gồm 15,5g (Mười lăm phẩy năm gam) chất rắn màu trắng cùng các mảnh giấy màu trắng, mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 869/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 30/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “- Các mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Hà Văn L gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn L có tổng khối lượng là 17,1g (mười bảy phẩy một gam).”
Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-QC ngày 11/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Hà Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn L từ 10 năm đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Heroine) còn lại cùng vỏ, bao gói được niêm phong theo quy định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, là tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có.
- Ý kiến trình bày bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh hoàn toàn nhất trí theo truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình éo le, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 09 năm đến 10 năm tù là hợp tình, hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối
3
với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 25/8/2023 sau khi nhận tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại nhà ở của bị cáo Hà Văn L ở bản N, xã CN, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an huyện Quỳ Châu phối hợp với Công an xã CN tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, sau khi kiểm tra bị cáo Hà Văn L đã tự nguyện khai báo, giao nộp số ma túy đang tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho những người nghiện kiếm lời gồm 38 gói nhỏ để trong hộp nhựa tại kệ gỗ gần giường ngủ, tất cả đều được bọc bằng mảnh giấy màu trắng và 02 gói được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng để trong túi áo bò bên phải treo trong tủ ở gian khách, bên trong các gói đều có chứa chất ma túy (Heroine) với tổng khối lượng cân được sau khi loại bỏ bao gói là 17,1g (Mười bảy phẩy một gam), ngoài ra còn thu giữ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo khai nhận trước đó đã bán cho một thanh niên không rõ lai lịch 02 (hai) gói ma túy mà có. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
4
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh thêm các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng vi phạm pháp luật bị đưa ra xét xử nên biết rõ và nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động hoặc làm công việc hợp pháp để có thu nhập chính đáng mà cố ý phạm tội để có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, qua đó cho thấy thái độ thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 (một) tiền án chưa được xóa án tích, nhưng tiếp tục phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo đang bị tạm giam, là lao động tự do, không có tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch của người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và người thanh niên mua ma túy với bị cáo nhưng không xác định được nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) còn lại 15,5g (Mười lăm phẩy năm gam) sau khi đã trích đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán và lưu hành dưới mọi hình thức; vật chứng gồm các mảnh giấy màu trắng, mảnh bao nilon màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ từ bị cáo là tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
5
Xử phạt bị cáo Hà Văn L 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/8/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Hà Văn L là tiền do phạm tội mà có. (Vật chứng được gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Quỳ Châu, theo biên bản giao nhận tài sản số: 41/2023/BBBG-KBNN lập ngày 19/9/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Kho bạc nhà nước huyện Quỳ Châu)
Tịch thu tiêu hủy 15,5g (Mười lăm phẩy năm gam) ma túy (Heroine) cùng các mảnh giấy màu trắng, mảnh bao ni lông màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại thuộc vụ Hà Văn L – Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 25/8/2023 tại xã CN, huyện QC, tỉnh Nghệ An”...(Một khoản). (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 12/12/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hà Văn L chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Châu; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã CN, huyện QC, tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - lưu HS, VP; 6 | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |