- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Ph Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 31/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hưng
2. Ông Hờ A Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Phìn Đại Quảng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/ QĐXXST- HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn Ph, tên gọi khác: không; sinh năm: 1986 tại Điện Biên;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn X và bà Lò Thị O; Bị cáo có vợ là Tòng Thị Th và 02 con. Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại bản án số 03/2012/HSST ngày 22/11/2012, năm 2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 24/2019/HSST ngày 28/6/2019; Bị cáo đã chấp hành xong các bản án này và đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lý A Ch – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Căn cứ lời khai của Tòng Văn S trú tại tổ dân phố 1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên (S khai đã mua ma túy từ Quàng Văn Ph), hồi 09 giờ 00 phút ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quàng Văn Ph tại tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Qua khám xét đã thu giữ của Ph 02 gói Heroine đều được gói bằng giấy bạc màu vàng, có tổng khối lượng 0,23 gam do Ph cất trong túi áo khoác để trên chiếc loa thùng trong nhà. Ph khai nhận số ma túy trên có được là do trước đó vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/6/2024 Ph mua được của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại khu vực gần Trung tâm y tế huyện Mường Chà với giá 50.000 đồng. Mục đích Ph mua ma túy là để sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đề nghị được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội. Bị cáo không thừa nhận đã bán ma túy cho Sình.
Bản cáo trạng số: 52/CT-VKSMC ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn Ph về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn Ph với mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,15 gam đựng trong 02 túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 áo khoác màu xanh - trắng, mặt trước có dòng chữ dererro thu giữ của bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo là người hiểu biết pháp luật hạn chế, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết mình vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 21/6/2024, tại nhà của mình thuộc tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên Quàng Văn Ph đã bị Công an thị xã Mường Lay khám xét thu giữ 0,23 gam Heroine. Số ma túy này Ph tàng trữ trái phép với mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: khám xét khẩn cấp; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Hành vi của Ph đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Quàng Văn Ph có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà đã truy tố.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma túy, coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất áp dụng chưa đủ sức răn đe, giáo dục cải tạo đối với bị cáo nên cân nhắc mức hình phạt phù hợp hơn. Hội đồng xét xử cũng lưu ý xem xét ý kiến người bào chữa cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, do bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, không có tài sản gì có giá trị lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,15 gam đựng trong 02 túi nilon màu trắng thu giữ của bị cáo vì là chất Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 áo khoác màu xanh – trắng bị cáo dùng giấu ma túy không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm của vụ án vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội.
Về vấn đề khác có liên quan: Quàng Văn Ph khai mua ma túy của một người không biết tên, địa chỉ; Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với người này. Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định bị cáo đã bán ma túy cho S nên không đề cập xử lý về hành vi này. Tòng Văn S bị Cơ quan điều tra Công an thị xã Mường Lay điều tra, xử lý trong vụ án khác theo đúng quy định.
Đối với 01 phong bì niêm phong vật chứng là tài liệu phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án không phải là vật chứng của vụ án hiện Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Chà đã chuyển kèm vật chứng sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà không có giá trị sử dụng, việc tiêu hủy 01 phong bì này không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án, nên đề nghị Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà tiêu hủy 01 phong bì này khi tiêu hủy vật chứng của vụ án.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người này đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Ph 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 21/6/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định hoàn lại 0,15 gam đựng trong 02 túi nilon màu trắng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 áo khoác màu xanh - trắng, mặt trước có dòng chữ dererro thu giữ của bị cáo; Tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Công an huyện Mường Chà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.)
4. Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/10/2024).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mường Chà; - Công an huyện Mường Chà; - Chi cục THADS huyện Mường Chà; - Nhà tạm giữ CA huyện Mường Chà; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; NBC; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |