vanban.org

Bản án 03/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 19/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Văn Tùng 14 (mười bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn Tùng 14 (mười bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST
Ngày 19-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

2. Ông Nguyễ n Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2023/HSST-HS ngày 14/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Tùng, sinh năm 1990. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Sàn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không có. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Tín và bà Vũ Thị Lành; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, có vợ là Nguyễn Thị Hải Yến, sinh năm 1987, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017.

- Tiền án:

+ Bản án số 73/2010/HSST ngày 23/6/2010 của Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt Trần Văn Tùng 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2011, chưa chấp hành xong tiền án phí;

+ Bản án số 63/2014/HSST ngày 07/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn Tùng 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2016, chấp hành xong án phí và khoản nộp ngân sách tháng 02/2014;

+ Bản án số 72/2018/HSST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Trần Văn Tùng 66 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

+ Bản án số 36/2018/HSST ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn Tùng 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”). Tổng hợp hình phạt của bản án số 72 và số 36, buộc Trần Văn Tùng thi hành hình phạt chung là 81 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2023.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân: Năm 2007, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi.

- Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ , Công an huyện Lạng Giang - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trầ n Thị Thuỷ , sinh năm 1987. Đị a chỉ : Thôn Can, xã Hương Gián , huyệ n Yên Dũ ng , tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. Anh Giá p Văn Đạ o , sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Rễ u, xã Đại Lâm , huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Hoà ng Văn Khuê, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn Thá i An, xã Thái Đà o huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 35 phút ngày 12/10/2023, tại đường tỉnh 293B thuộc địa phận thôn Hậu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện Lạng Giang phối hợp với Công an xã Đại Lâm kiểm tra, bắt quả tang Trần Văn Tùng, sinh năm 1990 ở thôn Sàn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ tại hộc để đồ phía đầu xe, dưới tay lái bên trái xe máy của Trần Văn Tùng: 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong túi có 01 (một) gói giấy bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng), bên trong gói giấy chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp.

- Thu giữ tại hộc để đồ ngay cạnh nắp bình xăng xe máy của Trần Văn Tùng 01 (một) túi nilon màu tím một đầu có rãnh khoá, bên trong túi có:

+ 01 (một) túi nilon màu vàng, một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể nghi là ma tuý tổng hợp.

+ 01 (một) túi nilon màu xanh- trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa trên túi có nhiều chữ nước ngoài, bên trong chứa một túi nilon màu hồng, bên trong túi nilon màu hồng có một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI1: 868683043391576, số IMEI2: 868683043391568, máy cũ đã qua sử dụng của Trần Văn Tùng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có ốp lưng bằng nhựa màu đen- đỏ- trắng, mặt sau điện thoại dán một mảnh giấy màu trắng, trên mảnh giấy có ghi IMEI1: 864751065890330, IMEI2: 864751065890322, máy cũ đã qua sử dụng của Trần Văn Tùng.

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đỏ-đen- trắng, biển số 98E1- 062.50, xe cũ đã qua sử dụng, số máy: JF27E-1313315, số khung: RLHJF27OXBY429798.

Ngày 13/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn Tùng nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra Trần Văn Tùng khai nhận: Bản thân Tùng bị nghiện ma tuý đá. Ngày 11/10/2023, Tùng lên mạng xã hội facebook liên hệ đặt mua ma tuý đá của một người không quen biết với giá 22.000.000 đồng. Người bán ma tuý hẹn Tùng khoảng 22 giờ đêm ngày hôm sau đợi ở khu vực gầm cầu Đình Trám thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 22 giờ ngày 12/10/2023, Tùng đi xe máy từ huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực cầu vượt Đình Trám theo như lịch hẹn. Tại đây, Tùng gặp một người đàn ông không quen biết, người này đưa cho Tùng một túi nilon màu tím. Tùng cầm và mở túi ra xem thì thấy bên trong là ma tuý đá. Tùng đưa số tiền 12.000.000 đồng cho người đàn ông đó và nói Tùng chỉ có bằng đó tiền, người đàn ông đó đồng ý rồi cầm tiền đi. Sau khi mua ma tuý xong, Tùng lấy ra một ít ma tuý từ bên trong túi nilon màu tím gói vào tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng rồi cho vào một túi nilon màu hồng và để ở hộc để đồ bên trái phía dưới tay lái xe máy, số ma tuý còn lại Tùng để vào hộc để đồ ngay cạnh nắp bình xăng xe máy. Sau đó Tùng đi xe máy lên huyện Lục Ngạn, Bắc Giang. Trên đường đi đến khu vực ngã ba thôn Hậu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thì Tùng đỗ xe lại để hút thuốc thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 1978/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói được gói bằng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ, được gói trong 01 túi nilon màu hồng là ma túy, có khối lượng 2,420 gam, loại Methamphetamine.

- Trong 01 gói nilon màu tím, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa:

+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu vàng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy, có khối lượng 49,485 gam, loại Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu hồng (tất cả được đựng trong 01 túi nilon màu xanh, trắng, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa) là ma túy, có khối lượng 46,952 gam, loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số HT630.23/PY-XNSH ngày 20/10/2023 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: Dấu vết trên 01 túi nilon màu tím một đầu có rãnh khoá nhựa gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Trần Văn Tùng.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Văn Tùng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 12/12/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Văn Tùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Tùng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa.

- Chị Trần Thị Thủy khai: Chị là chị gái của bị cáo Tùng, chiếc xe máy mang nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đỏ- đen- trắng, biển số 98E1-062.50 mà bị cáo Tùng sử dụng ngày 12/10/2023 là xe máy của chị mua từ năm 2012. Do thời điểm vừa qua chị bị đau chân không đi được nên chị mang xe máy gửi tại nhà bố mẹ đẻ, chị không biết bị cáo Tùng sử dụng xe máy của chị để đi mua ma túy. Chị đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe này cho chị.

Các anh Giáp Văn Đạo, Hoàng Văn Khuê là người chứng kiến của vụ án vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã trích đọc lời khai của những người này tại phiên tòa, bị cáo Tùng không có ý kiến gì về lời khai của họ.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Tùng từ 14 năm đến 14 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 13/10/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã Đại Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang và Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT” bên trong có: Mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 2,281 gam (ban đầu được đựng trong 01 gói được gói bằng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng), được gói trong 01 túi nilon màu hồng, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do Phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 48,077 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu vàng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 46,035 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu hồng (tất cả được đựng trong một túi nilon màu xanh, trắng, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa), được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”, “HT630.2023” bên trong có: 01 túi nilon màu hồng; 01 túi nilon màu vàng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong túi nilon màu vàng đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 10 sợi tóc có chân của bị cáo Tùng được niêm phong trong phong bì có chữ “Mẫu tóc của Trần Văn Tùng”.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 5.000đ được đựng trong 01 túi nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI1: 868683043391576, số IMEI2: 868683043391568, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho bị cáo Tùng 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có ốp lưng bằng nhựa màu đen- đỏ- trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

+ Trả lại cho chị Trần Thị Thủy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đỏ- đen- trắng, biển số 98E1- 062.50;

- Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan trong vụ á không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 35 phút ngày 12/10/2023, tại đường tỉnh 293B thuộc địa phận thôn Hậu, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Trần Văn Tùng đang có hành vi tàng trữ trái phép 98,857 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước việc mua bán, tàng trữ, sử dụng các chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác. Nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã cố ý phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử: Năm 2007, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. (Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi). Năm 2010, bị Toà án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2011, chưa chấp hành xong tiền án phí). Năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2016, chấp hành xong án phí và khoản nộp ngân sách tháng 02/2014). Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 66 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”). Tổng hợp hình phạt của bản án của TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo Tùng thi hành hình phạt chung là 81 tháng tù. (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2023).

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.

. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 36/2018/HSST ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Trần Văn Tùng 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”). Tổng hợp hình phạt của bản án số 72/2018/HSST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và bản án số 36/2018/HSST ngày 04/6/2018, buộc bị cáo Trần Văn Tùng thi hành hình phạt chung là 81 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2023 chưa được xóa án tính, ngày 12/10/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Qua xem xét xét, đánh giá toàn diện về hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhiều lần bị Tòa án xét xử kết tội và phải chấp hành án nhưng sau khi chấp hành án xong bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục sa ngã, thực hiện hành vi phạm tội, tàng trữ số lượng ma túy lớn do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian dài mới đủ đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này theo nhưng mức đề nghị của đại diện VKS tham gia phiên tòa là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Song xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do, qua xác minh với chính quyền địa phương bị cáo không có bất động sản, tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang không có cơ sở để điều tra xử lý, HĐXX không xem xét;

. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã Đại Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang và Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT” bên trong có: Mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 2,281 gam (ban đầu được đựng trong 01 gói được gói bằng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng), được gói trong 01 túi nilon màu hồng, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do Phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 48,077 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu vàng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 46,035 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu hồng (tất cả được đựng trong một túi nilon màu xanh, trắng, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa), được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”, “HT630.2023” bên trong có: 01 túi nilon màu hồng; 01 túi nilon màu vàng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong túi nilon màu vàng đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 10 sợi tóc có chân của bị cáo Tùng được niêm phong trong phong bì có chữ “Mẫu tóc của Trần Văn Tùng”.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 5.000đ được đựng trong 01 túi nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI1: 868683043391576, số IMEI2: 868683043391568, máy cũ đã qua sử dụng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

+ Trả lại cho bị cáo Tùng 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có ốp lưng bằng nhựa màu đen- đỏ- trắng không liên quan đến việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

+ Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đỏ- đen-trắng, biển số 98E1- 062.50 là tài sản của chị Trần Thị Thủy, sinh năm 1987 (chị gái của bị cáo), chị Thủy không biết việc bị cáo sử dụng xe của chị để đi mua ma túy do đó cần trả lại chiếc xe mô tô này cho chị Thủy.

. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xử phạt bị cáo Trần Văn Tùng 14 (mười bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã Đại Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang và Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “QT” bên trong có: Mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 2,281 gam (ban đầu được đựng trong 01 gói được gói bằng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng), được gói trong 01 túi nilon màu hồng, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do Phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 48,077 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu vàng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật; mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamin còn lại sau giám định 46,035 gam (ban đầu được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 túi nilon màu hồng (tất cả được đựng trong một túi nilon màu xanh, trắng, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa), được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ do phòng Kỹ thuật hình sự dung để đựng, bảo quản mẫu vật.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”, “HT630.2023” bên trong có: 01 túi nilon màu hồng; 01 túi nilon màu vàng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong túi nilon màu vàng đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, trên túi có nhiều chữ nước ngoài, bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 10 sợi tóc có chân của bị cáo Tùng được niêm phong trong phong bì có chữ “Mẫu tóc của Trần Văn Tùng”.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 5.000đ (Năm nghì n đồ ng ) được đựng trong 01 túi nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang và Viện Pháp y Quân đội, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao hoàn lại của QT”; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đỏ có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, số IMEI1: 868683043391576, số IMEI2: 868683043391568, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho bị cáo Tùng 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh có ốp lưng bằng nhựa màu đen- đỏ- trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

+ Trả lại cho chị Trần Thị Thủy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu sơn đỏ- đen- trắng, biển số 98E1- 062.50;

(Đặc điểm của vật chứng theo như Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKS ngày 12/12/2024 của VKSND huyện Lạng Giang).

3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Tùng phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghì n đồ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Án xử công khai sơ thẩm./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND, Công an huyện Lạng Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND, Sở TP tỉnh Bắc Giang;

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- Chi cục THADS huyện Lạng Giang;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

Vũ Thị Thiêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Thủy + Nguyễ n Quang Vinh

Vũ Thị Thiêm

Cỡ chữ