- Tranh chấp gì? án hình sự — "Moong Mẹ C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì thư màu trắng, ở góc phía trên, bên trái có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH NGHỆ AN – CÔNG AN HUYỆN KỲ SƠN”, được dán kín.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 01 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Moong Thái Nhi;
Bà Bùi Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Moong Mẹ C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/04/1960 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Mù chữ; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Pịt Phò M (Đã chết) và bà Pịt Mẹ M (Đã chết); có chồng: Moong Bún C và 03 (Ba) con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hùng - Trợ giúp viên pháp lý, công tác Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người phiên dịch: Ông Cụt Văn Ỏn, sinh năm 1990; Công tác tại: UBND xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Cụt Văn H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: bản H1, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 15/12/2023, Moong Mẹ C khi đang làm rẫy tại khu vực khe suối thuộc bản K, xã B, huyện K thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết. Người đàn ông này hỏi Moong Mẹ C “Có mua ma túy không?”, Moong Mẹ C trả lời "Có” rồi lấy trong người ra số tiền 200.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn) đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông đó cầm lấy tiền rồi đưa lại cho Moong Mẹ C 01(một) túi Potylen màu hồng, bên trong chứa 21 (Hai mươi mốt) viên ma túy màu hồng. Sau khi mua được ma túy, Moong Mẹ C lấy 01 (Một) viên ma túy ra sử dụng hết tại chỗ. Đến khoảng 17 giờ, ngày 15/12/2023, tại khu vực bản K, xã B, huyện K, có một người đàn ông dân tộc Khơ Mú đến hỏi mua ma túy và Moong Mẹ C đã bán 01 (Một) viên ma túy cho người đàn ông này lấy số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn). Còn lại 19 (Mười chín) viên ma túy, Moong Mẹ C cất giấu vào chiếc túi vải đeo lên người của mình rồi đi về nhà, nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ cho những người nghiện kiếm lời. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 16/12/2023, tại khu vực bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phối hợp với Công an xã Bắc Lý và Đội kiểm soát phòng chống ma túy-Cục Hải quan tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang Moong Mẹ C có về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ thu giữ số tang vật trên.
Tại bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 16/12/2023 đã xác định: Số viên nén màu hồng thu giữ của Moong Mẹ C có tổng khối lượng 1,9 gam (Một phẩy chín).
Kết luận giám định số 14/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Moong Mẹ C gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).
Tại Cơ quan điều tra, Moong Mẹ C đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ trái phép chất ma tuý là để sử dụng và bán kiếm lời.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy (Methamphetamine) là vật chứng, sau khi trích mẫu gửi giám định thì số còn lại có khối lượng 1,6 gam (Một phẩy sáu) cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu, đã được Cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 03/CT-VKS-KS ngày 17/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn đã truy tố bị cáo Moong Mẹ C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Moong Mẹ C mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Methamphetamine) là vật chứng còn lại có khối lượng 1,6 gam (Một phẩy sáu) cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu; về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện Kiểm Sát đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Moong Mẹ C đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Moong Mẹ C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 16/12/2023, tại khu vực bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An, Moong Mẹ C đang có hành vi tàng trữ 1,9 gam (Một phẩy chín) Ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi đó của bị cáo Moong Mẹ C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ, mua bán trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, phải xử lý bị cáo nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Moong Mẹ C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Các đối tượng liên quan: Trong vụ án này có người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết đã bán ma túy cho Moong Mẹ C và người đàn ông dân tộc Khơ Mú không quen biết đã mua ma túy với Moong Mẹ C, tuy nhiên quá trình điều tra không xác định được danh tính, lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người này nên không đủ căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án: Số ma túy (Methamphetamine) có khối lượng còn lại 1,6 gam (Một phẩy sáu) cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn) là số tiền bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho người thanh niên dân tộc Khơ Mú (không rõ lai lịch, địa chỉ), quá trình điều tra không lấy được lời khai của người này nên không có căn cứ để truy thu.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn vì vậy thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Moong Mẹ C 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/12/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì thư màu trắng, ở góc phía trên, bên trái có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH NGHỆ AN – CÔNG AN HUYỆN KỲ SƠN”, được dán kín. Trên mép dán có chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và dấu điểm chỉ của bị cáo Moong Mẹ C, ở mép dán có hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Bên trong có 1,6 gam (Một phẩy sáu) ma túy (Methamphetamine) và vỏ bao bì niêm phong ban đầu. (Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/01/2024 giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/Nghị quyết: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Moong Mẹ C.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/11/2024)./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Kỳ Sơn; - CQTHAHS huyện Kỳ Sơn; - CCTHADS huyện Kỳ Sơn; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên) CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Moong Thái Nhi Bùi Thị Nga | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Khuyên |