vanban.org

Bản án 03/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: TRẦN VĂN KH phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt TRẦN VĂN KH 12 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 22 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 34 tháng tù. Thời hạn chấp hành hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Kh - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: TRẦN VĂN KH phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST
Ngày: 17/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tích và ông Nguyễn Trọng Bộ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024; Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXXST-HS ngày 11/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2023/HSST-QĐ ngày 25/12/2023 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN KH, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1960; Mẹ: Vũ Thị D, sinh năm 1960. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Lê Ngọc A, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/HSST ngày 13/7/1999, Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt TRẦN VĂN KH 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của công dân.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/HSST ngày 17/02/2004, Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh đã xử phạt TRẦN VĂN KH 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số 199/2008/HSST ngày 09/9/2008, Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã xử phạt TRẦN VĂN KH 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Tại Quyết định số 2464/QĐ-UBND ngày 22/12/2010, TRẦN VĂN KH bị Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh quyết định đưa vào Trung tâm Giáo dục - Dạy nghề - Hướng thiện tỉnh Bắc Ninh cai nghiện ma tuý trong thời hạn 12 tháng.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 88/2014/HSST ngày 29/4/2014, Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã xử phạt TRẦN VĂN KH 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt TRẦN VĂN KH 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2023. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2023 trong vụ án nêu trên.

* Người làm chứng: Chị Lê Thị Ngọc A, anh Nguyễn Văn T, chị Lê Thị Ng và anh Ngô Văn Th.

(Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 54 phút ngày 10/4/2023, Kh điều khiển xe ô tô biển số 30H-306.82 đi trên Quốc lộ 5 theo chiều Hà Nội - Hải Phòng, đến Km 68+300 QL5 thuộc địa phận huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương yêu cầu dừng xe kiểm tra do vi phạm chạy quá tốc độ quy định. Quá trình làm việc, Kh xuất trình đầy đủ giấy tờ xe và Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 270225267486 mang tên TRẦN VĂN KH do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp, ghi ngày 18/02/2022. Qua kiểm tra thực tế, nghi ngờ Giấy phép lái xe ô tô trên có dấu hiệu làm giả nên đã lập biên bản làm việc đối với Kh , sau đó tiến hành bàn giao thẻ căn cước công dân của Kh ; xe ô tô biển số 30H-306.82 cùng Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe; Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 270225267486 mang tên TRẦN VĂN KH và Giấy biên nhận thế chấp do Ngân hàng TPBank cấp chứng nhận bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30H-306.82 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành giải quyết theo thẩm quyền.

Giai đoạn điều tra, TRẦN VĂN KH khai: Tháng 3/2022, TRẦN VĂN KH nhờ anh Ngô Văn Th - sinh năm 1990, trú tại: Khu 4, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh làm Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho Kh mà không phải qua đào tạo, thi sát hạch với chi phí 10.000.000 đồng, mục đích khi điều khiển xe ô tô nếu bị kiểm tra, Kh sẽ xuất trình Giấy phép lái xe cho lực lượng chức năng để được tiếp tục tham gia giao thông, không bị xử lý. Sau đó, Kh chụp ảnh chân dung và ảnh chứng minh nhân dân của Kh gửi cho Th qua ứng dụng Zalo, đồng thời Kh bảo vợ là chị Lê Ngọc A, sinh năm 1994, trú tại: khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh chuyển khoản cho Th số tiền 10.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau, Th đưa cho Kh Giấy phép lái xe hạng B2 số 270225267486 mang tên TRẦN VĂN KH do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp, ghi ngày 18/02/2022.

Tại bản Kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 25/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Giấy phép lái xe số 270225267486, đứng tên TRẦN VĂN KH, ghi ngày 18/2/2022 có hình dấu tròn có nội dung Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh, chữ ký đứng tên Phó giám đốc Nguyễn Văn Hiệp, tài liệu cần giám định là giả.

Tại giai đoạn điều tra, truy tố, TRẦN VĂN KH đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành trả lại TRẦN VĂN KH 01 thẻ căn cước công dân; xe ô tô biển số 30H-306.82 cùng Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe; Giấy biên nhận thế chấp do Ngân hàng TPBank cấp chứng nhận bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30H-306.82. Đối với Giấy phép lái xe giả nêu trên, là vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành quản lý, lưu trong hồ sơ vụ án.

Trong vụ án này, theo TRẦN VĂN KH khai nguồn gốc Giấy phép lái xe giả nêu trên là do Kh nhờ anh Ngô Văn Th làm với chi phí 10.000.000 đồng, song anh Th không thừa nhận, anh Th khai không làm Giấy phép lái xe giả cho Kh ; số tiền 10.000.000 đồng mà chị Lê Ngọc A chuyển cho anh Th là tiền trả nợ do Kh vay tiền của anh Th. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định anh Th có hành vi làm Giấy phép lái xe giả cho Kh , do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành không đặt ra việc xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT – VKS ngày 16/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo TRẦN VĂN KH về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành; nhất trí với tội danh bị truy tố tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, giữ nguyên các lời khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo TRẦN VĂN KH phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: TRẦN VĂN KH từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt 22 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử TRẦN VĂN KH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; buộc TRẦN VĂN KH phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án từ 34 tháng tù đến 37 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29/6/2023) theo bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị giam giữ, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kim Thành; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù nên có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, được Trại giam Vĩnh Quang – Cục C10, Bộ Công an xác nhận; Hội đồng xét xử chấp nhận đơn đề nghị và xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Giai đoạn điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại Đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo vẫn nhất trí với nội dung, tội danh bị Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu giữ cũng như kết luận của Cơ quan giám định kết luận: “Giấy phép lái xe số 270225267486, đứng tên TRẦN VĂN KH, ghi ngày 18/2/2022 có hình dấu tròn có nội dung Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh, chữ ký đứng tên Phó giám đốc Nguyễn Văn Hiệp, tài liệu cần giám định là giả”.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 14 giờ 54 phút ngày 10/4/2023, tại Km 66+300 Quốc lộ 5 thuộc địa phận huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; TRẦN VĂN KH điều khiển xe ô tô biển số 30H-306.82 chạy quá tốc độ quy định, khi bị cơ quan chức năng yêu cầu dừng xe kiểm tra, Kh đã xuất trình 01 Giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp (là giấy tờ giả) nhằm lừa dối cơ quan chức năng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố TRẦN VĂN KH về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ án này, theo TRẦN VĂN KH khai nguồn gốc Giấy phép lái xe giả nêu trên là do Kh nhờ anh Ngô Văn Th làm với chi phí 10.000.000 đồng nhưng anh Th không thừa nhận việc làm giả giấy tờ cho Kh ; số tiền 10.000.000 đồng mà chị Lê Ngọc A chuyển cho anh Th là tiền trả nợ do Kh vay tiền của anh Th. Giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Kim Thành đã ra Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để làm điều tra, làm rõ nội dung này; tuy nhiên ngày 23/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương có Công văn số 10 về việc giữ nguyên quyết định truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy ngoài những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc anh Th làm giả Giấy phép lái xe cho Kh , do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra việc xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng tài liệu giả để lừa dối cơ quan, tổ chức khi tham gia giao thông là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện không những đã xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về tài liệu mà còn xâm phạm trật tự, an toàn xã hội khi chưa được cấp Giấy phép lái xe theo đúng quy định mà vẫn điều khiển phương tiện là nguồn nguy hiểm cao độ khi tham gia giao thông. Bị cáo có nhân thân xấu, 03 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, 01 lần bị kết án về tội phạm ma túy và 01 lần bị UBND thành phố Bắc Ninh áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy; sau khi hành vi sử dụng Giấy tờ giả đang bị Công an huyện Kim Thành điều tra thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bắc Ninh, điều này thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật của bị cáo nên cần xét xử vụ án nghiêm minh, quyết định hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tổng hợp hình phạt của 02 bản án:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tại giai đoạn điều tra bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, xác định những lời khai tại Cơ quan điều tra là đúng sự thật, Cáo trạng tuy tố đối với bị cáo là đúng, không thắc mắc gì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Sau khi thực hiện hành vi sử dụng tài liệu giả bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội này đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật nên tổng hợp hình phạt của cả 2 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị giam giữ, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Điều 136; điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Tuyên bố: TRẦN VĂN KH phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt TRẦN VĂN KH 12 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 22 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 34 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/6/2023 theo bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Án phí: TRẦN VĂN KH phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt bị cáo; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ