vanban.org

Bản án 03/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lê Hồng H 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (19/5/2023). Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 10 (mười) triệu đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST
Ngày 29-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Kim Thành

Bà Lê Thị Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quang Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 30/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 15/01/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hồng H, sinh ngày 11/5/1998, tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn PG, xã NK, huyện HL, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Phạm Thị X; có vợ là Hoàng Thị H và 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 50/QĐ-XPVPHC, ngày 10/4/2020 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 Đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa chấp hành); nhân thân: Quyết định số 19/QĐ-XPĐG, ngày 13/9/2014 của Công an huyện Hoa Lư xử phạt Cảnh cáo đối với Lê Hồng H về hành vi “đánh bạc” và Quyết định số 317/QĐ-XPHC, ngày 17/9/2019 của Trưởng Công an huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 Đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” (chấp hành xong 01/10/2019). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/5/2023 đến ngày 26/5/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Điền Đức Đ, sinh năm 1987, trú tại: thôn ĐT, xã NP, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

Người làm chứng: anh Đinh Đức T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/5/2023 đến ngày 19/5/2023, Lê Hồng H đã 03 lần bán ma túy cho Điền Đức Đ, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ, ngày 16/5/2023, Đ sử dụng số điện thoại 0927835379 của mình gọi đến số điện thoại 0961317824 của H hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine. H Đ ý bán với giá 1.500.000 Đ và hẹn giao dịch tại trục đường phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Sau đó, Đ thuê xe ôm đi đến địa điểm đã hẹn. Khi đến nơi, Đ gọi điện cho H và H điều khiển xe mô tô Yamaha Exiter biển kiểm soát 35B2-40389 đến gặp Đ. Đ đưa cho H số tiền 1.500.000 đồng, H nhận tiền rồi đưa lại cho Đ vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy loại Ketamine rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Đ cầm số ma túy đã mua được lên xe ôm đi về nhà và sử dụng hết số ma túy đã mua.

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 18/5/2023, Đ tiếp tục gọi điện cho H hỏi mua 01 chỉ ma túy loại Ketamine. H đồng ý bán với giá 1.500.000 đồng và hẹn giao dịch tại trục đường phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư. Đ thuê xe ôm đến địa điểm đã hẹn. Một lúc sau, H gọi điện cho Đ biết được Đ đã đến địa điểm hẹn nên H điều khiển xe mô tô Yamaha Exiter biển kiểm soát 35B2-40389 đến gặp Đ. Khi gặp nhau, Đ đưa cho H số tiền 1.500.000 đồng, H nhận tiền và đưa cho Đ vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy, loại Ketamine. Sau đó, Đ và H đều rời đi. Đ đã sử dụng hết số ma túy Ketamine này.

Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ, ngày 19/5/2023, Đ lại gọi điện cho H hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine. H đồng ý bán với giá 3.000.000 đồng và lại hẹn Đ ra trục đường phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư để đưa ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút, cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter biển kiểm soát 35B2-40389 đến chỗ hẹn gặp Đ. Cả hai chưa kịp giao dịch mua bán ma túy thì bị Tổ công tác Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư phát hiện bắt quả tang, thu trên tay phải của H 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (4x5) cm chứa chất tinh thể màu trắng, tiến hành niêm phong ký hiệu Q1. H khai đây là túi ma túy, loại Ketamine định bán cho Đ thì bị Công an phát hiện. Đ khai đến gặp H để thông báo không mua ma túy nữa do không vay được tiền.

Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của H: 01 điện thoại đi động Redmi màu đen, số Imei 1: 864763067410728, số Imei 2: 864763067410736, bên trong lắp sim số 0961317824 (niêm phong, ký hiệu Q2); số tiền 1.000.000 đồng (niêm phong, ký hiệu Q3); 01 xe máy Yamaha Exiter màu đen, biển kiểm soát 35B2-403.89. Thu của Điền Đức Đ: 02 điện thoại đi động (niêm phong ký hiệu Q4) gồm: 01 điện thoại di động Redmi màu trắng, số Imei 1: 860364051198942, số Imei 2: 860364051198959, điện thoại không lắp sim và 01 điện thoại di động itel màu xanh, số Imei 1: 359053915104489, số Imei 2: 3589053913104497, lắp sim số 0927835379.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của H và niêm phong gửi giám định (ký hiệu M). Tại bản kết luận giám định số 421/KL-KTHS-MT ngày 26/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 1,6511 gam, là ma tuý, loại Ketamine.

Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại Redmi màu trắng thu giữ của Đ phát hiện có 02 tệp video ghi lại việc trao đổi mua bán ma túy giữa H và Đ vào hai ngày 16/5/2023 và 18/5/2023. Tiến hành trưng cầu giám định 02 tệp video này thu được kết quả: tại bản Kết luận giám định số 545/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 29/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh thu giữ của Đ phát hiện 02 tệp tin âm thanh liên quan đến việc trao đổi mua bán ma túy ngày 19/5/2023 giữa H và Đ. Tiến hành trưng cầu giám định 02 tệp tin này kết quả như sau: tại bản Kết luận giám định số 4840/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận: không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm thanh trong các tập tin mẫu cần giám định. Nội dung hội thoại trong các tệp tin mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản. Không đủ điều kiện đưa ra kết luận có tiếng nói của Lê Hồng H và Điền Đức Đ, do mẫu so sánh không phù hợp với mẫu cần giám định. Kèm theo kết luận giám định có: 01 Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định gồm 03 trang giấy kH A4.

Tại bản kết luận giám định số 7573/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận: Tiếng nói của người đàn ông (ký hiệu “Nam 2” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định tại Kết luận giám định: 4840/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an) trong 02 tệp tin âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của Điền Đức Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của người đàn ông (ký hiệu “Nam 1” trong Bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định tại Kết luận giám định: 4840/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an) trong 02 tệp tin âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của Lê Hồng H trong mẫu so sánh là của cùng một người.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định 02 chiếc điện thoại di động thu của Đ là của anh Bùi Trung K, sinh năm 1980, trú tại phố , phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình cho Đ mượn để liên lạc. Anh K không biết việc Đ dùng để giao dịch mua ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho anh K. Anh K đã nhận lại 02 chiếc điện thoại trên và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với chiếc xe mô tô thu giữ của H là của bà Phạm Thị X, sinh năm 1954, trú tại thôn PG, xã NK, huyện HL, tỉnh Ninh Bình (là mẹ đẻ của H) cho H mượn để làm phương tiện đi lại. Bà X không biết H dùng chiếc xe trên để đi bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà X. Bà X đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.

Vật chứng còn lại của vụ án hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư gồm:

+ 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và 01 vỏ túi nilon màu trắng được niêm phong trong một phong bì (ký hiệu B);

+ 1,5852 gam Ketamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì;

+ 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 864763067410728; số Imei 2: 864763067410736, bên trong lắp sim số 0961317824 thu giữ của Lê Hồng H và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong một phong bì (ký hiệu H).

+ 01 vỏ phong bì niêm phong (ký hiệu Q3).

+ Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lê Hồng H.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSHL ngày 28/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội Đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 8 năm đến 8 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ; phạt tiền bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng. Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại thu giữ của bị cáo và số tiền 3.000.000 đồng trong đó có 1.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo; tịch thu tiêu hủy các vật chứng khác còn lại của vụ án. Buộc bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo trong các ngày từ 16/5/2023, 18/5/2023 và ngày 19/5/2023, tại trục đường phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Lê Hồng H đã 03 lần có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Điền Đức Đ. Trong đó, ngày 16/5/2023 và ngày 18/5/2023, Lê Hồng H đã 02 bán túi ma túy cho Điền Đức Đ lấy 3.000.000 đồng. Ngày 19/5/2023, Lê Hồng H mang 1,6511 gam Ketamine đến địa điểm trên để bán cho Đồng nhưng chưa kịp giao dịch mua bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của BLHS.

Điều 251. Tội Mua bán trái phép chất ma tuý

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 2 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước đây, bị cáo đã nhiều lần bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hiện còn một tiền sự nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố là người có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng. Bị cáo phạm tội có mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật. Số ma túy còn lại sau giám định và những vỏ bao gói (túi nilon, vỏ bao thuốc lá), các phong bì niêm phong là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 3.000.000 đồng bị cáo có được do bán ma túy cho Điền Đức Đ (trong đó có 1.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo) là tiền do phạm tội mà có và chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các vấn đề khác: Lê Hồng H khai mua ma túy của một người không quen biết ở khu vực huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên không đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ người bán ma túy cho bị cáo.

Đối với Điền Đức Đ là người đã mua ma túy của Lê Hồng H. Quá trình điều tra không xác định được số khối lượng ma túy mà Đ đã mua vào ngày 16/5/2023 và ngày 18/5/2023 vì Đ đã sử dụng hết. Ngày 19/5/2023, khi chưa giao dịch mua bán ma túy thì Lê Hồng H đã bị Cơ quan Công an bắt giữ. Do đó, không có cơ sở để xem xét xử lý đối với Điền Đức Đ.

Đối với những người xe ôm đã chở Điền Đức Đ đi mua ma túy, Điền Đức Đ khai không quen biết và họ cũng không biết việc Đ đi mua ma túy nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Hồng H 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (19/5/2023).

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 10 (mười) triệu đồng.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS,

Tịch thu tiêu hủy 1,5852 gam Ketamine và toàn bộ vỏ bao gói, phong bì niêm phong.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 3.000.000 (ba triệu) Đ của bị cáo gồm 1.000.000 (một triệu) Đ đã thu giữ của bị cáo, 2.000.000 (hai triệu) đồng truy thu của bị cáo; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo.

(Các vật chứng nêu trên (trừ số tiền 2.000.000 đồng) đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023 và Ủy nhiệm chi ngày 28/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hoa Lư và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ