- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 22-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Hữu Bình;
Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn Đ, sinh năm 1985, tại Cà Mau; Nơi đăng ký HKTT: Ấp AH, xã TT, huyện CN, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp PB, xã AL, huyện DT, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1965. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1989 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Bà Dương Thị C, sinh năm 1962; HKTT: Ấp KL, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; HKTT: Ấp KL, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Đ có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định.
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 05/02/2023, Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69E1-511.38 trong tình trạng có sử dụng bia đi một mình từ hướng xã An Điền, thị xã Bến Cát về hướng xã An Lập, huyện Dầu Tiếng trên tuyến đường ĐT748. Khi đến đoạn đường ĐT748 thuộc ấp Kiến An, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương thì xe mô tô do Đ điều khiển đi không đúng phần đường (lấn trái). Cùng thời điểm này xe mô tô biển số 69E1 – 580.48 do ông Nguyễn Chí H điều khiển đi một mình từ hướng xã An Lập, huyện Dầu Tiếng về hướng xã An Điền, thị xã Bến Cát. Dẫn đến phần bên phải xe mô tô biển số 69E1-511.38 do Đ điều khhiển va chạm với phần bên phải xe mô tô biển số 69E1-580.48 ông H điều khiển. Hậu quả, làm ông H bị thương nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Phước sau đó tử vong.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã tiến hành trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện theo quy định của pháp luật. Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định:
- Hiện trường bị xê dịch một phần do cấp cứu người bị nạn, các phương tiện khác lưu thông ngang qua hiện trường.
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa, thẳng, mặt đường bằng phẳng, tầm nhìn của lái xe không bị che khuất, chiều rộng mặt đường là 7m00, có vạch sơn kẻ đường nét đứt phân hai chiều đường, mỗi chiều đường rộng 3m50.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy trụ điện số H3/Km20 trong lề trái hướng UBND xã An Lập đi UBND xã An Điền làm điểm móc chuẩn, lấy mép đường bên phải hướng UBND xã An Lập đi UBND xã An Điền làm mép đường làm chuẩn.
- Trên mặt đường có một vết nhớt dạng phun (2) chiều hướng UBND xã An Lập đến UBND xã An Điền, kích thước dài 2m40, chỗ rộng nhất 0,60m giữa đầu vết nhớt cách lề chuẩn là 3m60.
- Trên mặt đường có một vết cày (3) kéo dài đến đồ gác chân trước bên phải xe mô tô 69E1-580.48 kích thước dài 1m70, rộng 0m01, đầu vết cày cách lề chuẩn là 5m50, cách giữa đầu vết nhớt là 2m30.
- Xác định vùng va chạm đầu tiên (5) có đường kính 1m00, tâm vùng cách lề chuẩn là 3m30, cách trục sau xe mô tô 69E1-511.38 là 2m15, cách giữa đầu vết nhớt là 0m85.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 93/GĐPY ngày 07/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Chí H: Đa chấn thương.
Theo Kết luận giám định số 184/KL-KTHS(CH) ngày 24/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự hình sự Công an tỉnh Bình Dương cơ chế va chạm giữa xe mô tô biển số 69E1-511.38 và xe mô tô biển số 69E1-580.48 như sau: Phần bên phải xe mô tô biển số 69E1-511.38 va chạm với phần bên phải xe mô tô biển số 69E1-580.48.
Theo Công văn số 266/GĐCH-PC09 ngày 15/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương về việc đề nghị giải thích nội dung giám định như sau: Căn cứ vào Kết luận giám định trên về vị trí va chạm đầu tiên và cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 69E1-580.48 và xe mô tô biển số 69E1-511.38 thì chiều hướng va chạm của 02 (hai) phương tiện là ngược chiều nhau; Nếu 02 (hai) phương tiện cùng chiều thì không tạo nên dấu vết va chạm có chiều hướng như mô tả tại Kết luận giám định số 184/KL-KTHS(CH) ngày 24/4/2023.
Theo kết quả xét nghiệm ngày 05/02/2023 của Bệnh viện Đa khoa Mỹ Phước thể hiện định lượng Ethanol (cồn trong máu) của Bùi Văn Đ là 54.5 mmol/L tương đương 251,136 mg/100ml.
Quá trình điều tra, Bùi Văn Đ không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, từ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được xác định ngày 05/02/2023 tại đoạn đường ĐT 748 thuộc ấp Kiến An, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69E1-511.38 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia đi một mình từ hướng xã An Điền, thị xã Bến Cát về hướng xã An Lập, huyện Dầu Tiếng lấn trái đụng vào xe mô tô biển số 69E1-580.48 do Nguyễn Chí H điều khiển theo chiều ngược lại.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSDT ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đằng từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp:
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 69E1-580.48, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đen xám, số loại BLADE, số máy JA36E1061132, số khung RLHJA368XMY021669. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Chí H. Ngày 09/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp của bị hại H theo Quyết định xử lý vật chứng số 22/QĐ-ĐTTH ngày 09/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
+ Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, không thời hạn, số 790156097981 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2015 mang tên Bùi Văn Đ. Xét thấy, đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Đ nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn trắng xanh, dung tích xi lanh 110, biển số 69E1-511.38, số máy E32VE192028, số khung RLCUE3710LY100821. Ngày 17/9/2022, bị cáo Bùi Văn Đ mua lại xe mô tô trên tại cửa hàng xe máy Nguyễn Văn H1 có địa chỉ tại tổ 2, ấp 4, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này ông Dương Quốc D, sinh năm 1990, cư trú tại ấp TT, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên ông Dương Văn D không có ở địa phương nên Cơ quan điều tra không làm việc được nên đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng không tìm được chủ sở hữu. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã tiến hành tra cứu cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nhưng không có kết quả. Do vậy đề nghị trả lại xe mô tô trên cho bị cáo Đ.
- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 81/CT-VKSDT ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân nhân huyện Dầu Tiếng đã truy tố. Bị cáo điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn. Bị cáo uống say nên không xác định được hướng đi của mình. Bị cáo nhìn nhận trách nhiệm của mình và có thái độ ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt. Về bồi thường thiệt hại, bị cáo đồng ý bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 162.000.000 đồng.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Về hình phạt, yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 162.000.000 đồng bao gồm chi phí mai táng 62.000.000 đồng và bồi thường tổn thất về tinh thần 100.000.000 đồng.
- Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo rất hối hận, bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Đ khai nhận như sau: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 05/02/2023, tại đoạn đường ĐT 748 thuộc ấp Kiến An, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69E1-511.38 trong tình trạng có sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 251,136 mg/100ml), đi từ hướng nào thì bị cáo không nhớ. Tuy nhiên quá trình khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện theo quy định của pháp luật, Kết luận giám định số 184/KL-KTHS(CH) ngày 24/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự hình sự Công an tỉnh Bình Dương cơ chế va chạm giữa xe mô tô biển số 69E1-511.38 và xe mô tô biển số 69E1-580.48 và Công văn số 266/GĐCH-PC09 ngày 15/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương về việc đề nghị giải thích nội dung giám định có cơ sở xác định hướng đi của bị cáo là từ hướng xã An Điền, thị xã Bến Cát về hướng xã An Lập, huyện Dầu Tiếng đi không đúng phần đường (lấn trái) nên đã đụng vào xe mô tô biển số 69E1 – 580.48 do Nguyễn Chí H điều khiển theo hướng ngược lại. Vụ tai nạn làm Nguyễn Chí H chết do đa chấn thương. Như vậy, có căn cứ kết luận Cáo trạng số 81/CT-VKSDT ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố bị cáo Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô biển số 69E1-511.38 trong tình trạng có sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 251,136 mg/100ml) đi từ hướng xã An Điền, thị xã Bến Cát về hướng xã An Lập, huyện Dầu Tiếng đi không đúng phần đường (lấn trái) nên đã đụng vào xe mô tô biển số 69E1 – 580.48 do Nguyễn Chí H điều khiển theo hướng ngược lại là đã vi phạm Điều 9 Luật giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia. Hậu quả của hành vi đó đã gây ra cái chết thương tâm cho bị hại. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi vô ý vì quá tự tin.
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng nên cần xử lý bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt sau này, cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn T, bà Dương Thị C yêu cầu bị cáo Đ bồi thường số tiền 162.000.000 đồng bao gồm chi phí mai táng 62.000.000 đồng, bồi thường tổn thất về tinh thần 100.000.000 đồng. Bị cáo Đ đồng ý bồi thường số tiền trên nên ghi nhận.
Về biện pháp tư pháp:
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 69E1-580.48, nhãn hiệu Honda, màu sơn: đen xám, số loại BLADE, số máy JA36E1061132, số khung RLHJA368XMY021669 là tài sản hợp pháp của bị hại Nguyễn Chí H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn T (người đại diện hợp pháp của bị hại Hưỡng) là phù hợp.
+ Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, không thời hạn, số 790156097981 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2015 mang tên Bùi Văn Đ. Xét thấy, đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Đ, do không áp dụng hình phạt bổ sung nên không cần thiết giữ giấy tờ xe của bị cáo. Do đó, trả lại Giấy phép lái xe trên cho bị cáo Đ.
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn trắng xanh, dung tích xi lanh 110, biển số 69E1-511.38, số máy E32VE192028, số khung RLCUE3710LY100821. Ngày 17/9/2022, bị cáo Đ mua lại xe mô tô trên tại cửa hàng xe máy Nguyễn Văn H1 có địa chỉ tại tổ 2, ấp 4, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này ông Dương Quốc D, sinh năm 1990, cư trú tại ấp TT, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, ông Dương Văn D không có ở địa phương nên Cơ quan điều tra không làm việc được và đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng không tìm được chủ sở hữu. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã tiến hành tra cứu cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nhưng không có kết quả. Do vậy trả lại xe mô tô trên cho bị cáo Đ.
Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 106, 135, 136, 299, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; 47 Bộ luật Hình sự;
Điều 9 Luật giao thông đường bộ;
Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia;
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Bùi Văn Đ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại (ông Nguyễn Văn T và bà Dương Thị C) số tiền 162.000.000 đồng (một trăm sáu mươi hai triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Đ không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bị cáo Đ còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Biện pháp tư pháp:
- Hoàn trả cho bị cáo Bùi Văn Đ:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: trắng xanh, biển số: 69E1-511.38, số máy E32VE192028, số khung: RLCUE3710LY100821, sung tích xi lanh: 110, loại xe: hai bánh (vật chứng tại thời điển giao nhận: xe đã cũ, phần đầu xe bể hoàn toàn, không gương chiếu hậu bên phải);
+ 01 giấy phép lái xe hạng A1, không thời hạn, số 790156097981, do Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2015;
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng)
4. Án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CQCSĐT Công an H. Dầu Tiếng; - CCTHA H. Dầu Tiếng; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV27 CA tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đ Đặng Thị Thùy Linh |