- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: chị Vũ Thị H và BĐ: anh Đào Văn D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H đƣợc ly hôn anh Đào Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-02-2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hồng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng- Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2024, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Hiện trú tại: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;
- Bị đơn: Anh Đào Văn D, sinh năm 1980; ĐKHKTT và nơi cƣ: Thôn H, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;
- Người làm chứng:
+ Anh Đào Văn T, sinh năm 2001; Địa chỉ: H, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;
+ Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; Đều trú tại: thôn T, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
(Chị H vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh D vắng mặt lần 2 không có lý do, vắng mặt những ngƣời làm chứng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị và anh Đào Văn D kết hôn trên cơ sở tự do, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Tứ Kỳ ngày 23/8/2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, bất đồng quan điểm. Bên cạnh đó anh D chơi bời, cờ bạc dẫn đến nợ nần phải bán nhà của vợ chồng đi trả nợ, từ đó vợ chồng liên tục xảy ra cãi vã, không còn quan tâm gì đến nhau. Năm 2015, anh D vi phạm pháp luật và bị Tòa án xử phạt 36 tháng tù về tội Đánh bạc, năm 2018 chấp hành xong án phạt tù về địa phƣơng sinh sống nhƣng anh D vẫn không thay đổi, vẫn chơi bời, không tu chí làm ăn. Do kinh tế khó khăn, năm 2019 chị đi xuất khẩu lao động kiếm tiền trả nợ, nhƣng anh D ở nhà không chăm lo gia đình, bị Ngân hàng phát mại tài sản là nhà đất của vợ chồng để thu hồi nợ. Năm 2021, vợ chồng phải bán nhà trả nợ ngân hàng, anh D và con phải về ở nhờ nhà bố mẹ đẻ. Từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ đƣợc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh D để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đào Văn T, sinh năm 2001 và Đào Vũ C, sinh ngày 23/02/2008. Cháu T đã trƣởng thành có gia đình riêng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu C đang ở với bố, trƣờng hợp Tòa án chấp nhận đơn của chị cho ly hôn, cháu C muốn ở với ai là quyền lựa chọn của cháu, trƣờng hợp xin ở với chị, chị sẽ nuôi dƣỡng cháu và không yêu cầu anh D cấp dƣỡng nuôi con. Hiện chị làm lao động tự do, mức thu nhập khoảng 6 đến 7 triệu đồng/tháng, chị đang ở nhờ nhà bố mẹ có phòng riêng để sinh hoạt. Trƣờng hợp cháu C ở với anh D, chị xin tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con cùng với anh D theo tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2024 đến khi con trƣởng thành (đủ 18 tuổi).
+ Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Đào Văn D trình bày:
+ Về thời gian và điều kiện kết hôn của vợ chồng nhƣ chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị ở riêng tại thôn H, xã H, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H sống không chung thủy, có quan hệ ngoài luồng với ngƣời đàn ông khác (chị H cũng thừa nhận không chung thủy). Tuy nhiên lúc đó anh nghĩ cho gia đình, muốn các con có bố mẹ nên anh đã bỏ qua tất cả. Năm 2020, chị H đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan, kể từ đó mà vợ chồng ít liên lạc với nhau, chị về nƣớc anh cũng không biết, gần đây thì không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị H xin ly hôn, anh không đồng ý và không ký biên bản lấy lời khai.
+ Về con chung: Anh D xác định vợ chồng có hai con chung nhƣ chị H đã trình bày là đúng, cháu Đào Văn T đã trƣởng thành, cháu Đào Vũ C đƣợc anh nuôi dƣỡng từ khi chị H đi xuất khẩu lao động đến nay. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh cũng không thể hiện quan điểm về nuôi con, hiện anh làm lao động tự do ở TP Hải Phòng, do không đồng ý ly hôn nên anh cũng không cung cấp mức thu nhập của anh.
+ Về tài sản chung, công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ngƣời làm chứng anh Đào Văn T (con của anh D, chị H) cung cấp: Về thời gian và điều kiện kết hôn của bố mẹ anh nhƣ mẹ anh đã trình bày là đúng. Quá trình chung sống, bố mẹ anh có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ vấn đề kinh tế, bố anh chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, năm 2015 bố anh bị Tòa án xử về tội đánh bạc, mẹ anh phải đi xuất khẩu lao động lấy tiền trả nợ, sau đó bố mẹ anh phải bán nhà, bố anh phải về ở với bà nội, mẹ anh sau khi đi xuất khẩu lao động về cũng không về chung sống cùng với bố anh nữa mà ly thân đến nay. Hiện bố anh đang làm công nhân, mức thu nhập nhƣ thế nào anh không nắm đƣợc.
- Ngƣời làm chứng ông Vũ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H (bố mẹ đẻ chị H) cung cấp: Về thời gian và điều kiện kết hôn giữa anh D, chị H nhƣ anh chị đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị ra ở riêng, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, anh D chơi bời, cờ bạc dẫn đến bị kết án phải đi cải tạo, sau khi về anh ấy vẫn không thay đổi, chứng nào tật nấy, vợ chồng hay xảy ra xô xát, cãi vã. Sau đó chị H đi xuất khẩu lao động, anh D ở nhà nhƣng không chăm lo đƣợc cho gia đình, dẫn đến phải bán nhà đất trả nợ. Chị H về nƣớc nhƣng vợ chồng không đoàn tụ mà ly thân từ đó đến nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh D, do anh chị đã mâu thuẫn nhiều năm, không thể hòa giải đƣợc, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H đƣợc ly hôn anh D để hai bên ổn định cuộc sống.
- Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã H, đại diện cán bộ lao động thƣơng binh xã hội, hội phụ nữ xã H và Trƣởng thôn H đều đƣợc cung cấp: Về thời gian và điều kiện kết hôn của anh chị đúng nhƣ các đƣơng sự đã trình bày. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng với bố mẹ anh D một thời gian thì ra ở riêng. Quá trình chung sống, anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ vấn đề kinh tế, anh D chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, đã bị xử lý hình sự về tội đánh bạc, sau khi chấp hành án xong, anh D về địa phƣơng sinh sống, kinh tế gia đình không cải thiện, anh chị đã phải bán nhà đi trả nợ, vợ chồng sống ly thân. Nay chị H xin ly hôn anh D, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có hai con chung nhƣ các đƣơng sự trình bày là đúng, cháu Tuấn đã trƣởng thành, cháu C đang ở với anh D và ông bà nội, đƣợc chăm sóc và phát triển tốt. Trƣờng hợp anh chị phải ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các đƣơng sự và con chung. Hiện nay anh D là lao động tự do, thu nhập hàng tháng của anh ấy nhƣ thế nào địa phƣơng không nắm đƣợc.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị H đƣợc ly hôn anh D. Về con chung: Giao cho anh Đào Văn D đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Đào Vũ C. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc cấp dƣỡng nuôi con cùng anh D theo tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2024 đến khi con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi) và đƣợc quyền thăm nom con chung không ai đƣợc phép ngăn cản. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết. Về án phí: chị Vũ Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật và án phí cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Vũ Thị H có đơn xin xử vắng mặt, anh Đào Văn D vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Đào Văn D đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Tứ Kỳ vào ngày 23/08/2000 nên đƣợc công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2007-2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị H xác định anh D chơi bời, cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, thậm chí còn bị xử lý về hình sự, vì nợ nần nhiều nên đã phải bán nhà đất của vợ chồng đi ở nhờ, còn theo anh D thì nguyên nhân là do chị H không chung, thủy có quan hệ ngoài luồng với ngƣời đàn ông khác. Từ năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Lời khai của chị H phù hợp với lời khai của anh D và đại diện các đoàn thể, chính quyền địa phƣơng xã H, ngƣời làm chứng, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vợ chồng chị H, anh D đã có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình, mỗi ngƣời có một quan điểm trái ngƣợc nhau, chính vì vậy mà vợ chồng nhiều lần xảy ra xô xát, cãi vã. Mặc dù nguyện vọng của anh D không đồng ý ly hôn, nhƣng thực tế từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, anh D cũng không có giải pháp nào dàn xếp chuyện tình cảm để vợ chồng về đoàn tụ, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài. Nhƣ vậy, đã có đủ cơ sở kết luận tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị H đƣợc ly hôn với anh D là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đào Văn T, sinh năm 2001 và Đào Vũ C, sinh ngày 23/02/2008, cháu Tuấn đã trƣởng thành nên Tòa án không phải giải quyết, đối với cháu C hiện đang ở với anh D và ông bà nội. Xét ý kiến của chị H anh D và nguyện vọng của cháu C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đối với cháu Đào Vũ C đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng đƣợc ở với bố. Anh D làm lao động tự do, có nhu nhập, chính quyền địa phƣơng cũng xác định từ lúc chị H đi xuất khẩu lao động, cháu C ở với anh D, phát triển tốt cả về thể lực và trí lực. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của con chung, HĐXX giao cho anh D tiếp tục nuôi dƣỡng con chung Đào Vũ C, sinh ngày 23/02/2008 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Mặc dù anh D không thể hiện ý kiến, quan điểm về nuôi con cũng nhƣ vấn đề cấp dƣỡng, tuy nhiên xét điều kiện kinh tế hiện nay của anh D cũng khó khăn, đi làm lao động tự do. Chị H có nguyện vọng muốn cấp dƣỡng nuôi con, vì vậy, để giảm gánh nặng cho anh D và đảm bảo quyền lợi cho cháu C tốt hơn, cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dƣỡng nuôi con cùng với anh D theo tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2024 đến khi con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
Về tài sản chung, công nợ: chị H, anh D đều không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Về án phí: Chị Vũ Thị H khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H đƣợc ly hôn anh Đào Văn D.
2. Về con chung: Giao cho anh Đào Văn D tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Đào Vũ C, sinh ngày 23/02/2008 cho đến khi con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H cấp dƣỡng nuôi con chùng với anh D theo tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 02/2024 đến khi con trƣởng thành (đủ 18 tuổi).
Chị Vũ Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0004927 ngày 11/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H còn phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THA dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND xã H (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP; ỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |