- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày 26/01/2024 V/v:“tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Đông.
- Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Hoằng và bà Đỗ Thị Liên;
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan – Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXX-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Ph, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam;
- Bị đơn: anh Phạm Chí L, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam
(Chị Ph, anh L cùng có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ph trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Chí L trên cơ sở tự nguyện, và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên (nay là UBND xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam vào ngày 20/01/2006.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã nhiều lần sống ly thân và lần gần đây nhất là vào tháng 3/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Chí L.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Phạm Chí L trình bày: Anh xác nhận thời gian, điều kiện kết hôn như chị Ph trình bày là đúng. Về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, anh cho rằng do trong quá trình chung sống vợ chồng có cãi chửi nhau xong rồi chị Ph tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở và làm đơn xin ly hôn anh. Anh cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không quan tâm tới ai. Nay chị Ph xin ly hôn, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị Ph.
Về con chung: chị Ph và anh L cùng xác nhận vợ chồng có ba con chung là cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 25/8/2008; cháu Phạm Chí Hoàng L, sinh ngày 25/2/2012 và cháu Phạm Gia H, sinh ngày 25/11/2019. Hiện nay cháu L và cháu H đang ở với chị Ph, còn cháu L đang ở với anh L. Khi ly hôn quan điểm của chị L: xin nuôi cháu L, cháu H còn để anh L nuôi dưỡng cháu L và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L nhất trí với quan điểm của chị Ph.
Về tài sản chung; công sức; công nợ: chị Ph, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ph và bị đơn là anh L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát thị xã Duy Tiên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L; về con chung: Giao chị Ph nuôi dưỡng cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 25/8/2008 và cháu Phạm Gia H, sinh ngày 25/11/2019; anh L nuôi dưỡng cháu Phạm Chí Hoàng L, sinh ngày 25/2/2012 và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung; công sức; công nợ: không đặt ra giải quyết; về án phí ly hôn sơ thẩm chị Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu ý kiến về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L đều có xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt chị Ph, anh L theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Đ, huyện D (nay là UBND xã T, thị xã D) vào ngày 20/01/2006.
Về tình cảm vợ chồng: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày một trầm trọng không thể hàn gắn được. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã nhiều lần sống ly thân và lần gần đây nhất là vào đầu năm 2023 đến nay không quan tâm tới nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, HĐXX cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: chị Ph và anh L cùng xác nhận vợ chồng có ba con chung là cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 25/8/2008; cháu Phạm Chí Hoàng L, sinh ngày 25/2/2012 và cháu Phạm Gia H, sinh ngày 25/11/2019. Hiện nay cháu L và cháu H đang ở với chị Ph, còn cháu L đang ở với anh L. Xét nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự, nhận thấy hiện cả chị Ph và anh L đều có đủ điều kiện nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất đối với các con chung của vợ chồng, HĐXX cần giao chị Ph trực tiếp nuôi cháu Phạm Thùy L và cháu Phạm Gia H; giao anh L trực tiếp nuôi cháu Phạm Hoàng Chí L kể từ ngày 26/01/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81,82 và Điều 83 Luật HN&GĐ.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Do các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Chí L.
2.Về con chung: Giao chị Trần Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thùy L, sinh ngày 25/8/2008 và cháu Phạm Gia H, sinh ngày 25/11/2019. Giao anh Phạm Chí L nuôi dưỡng cháu Phạm Chí Hoàng L, sinh ngày 25/2/2012 kể từ ngày 26/01/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Các bên được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị Ph, anh L và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh L, chị Ph trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3.Về tài sản chung; công sức; công nợ: chị Ph, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Ph phải chịu 300.000 đồng. Chị Ph được đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Ph đã nộp ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên.
Báo cho chị Ph, anh L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam. - VKSND thị xã Duy Tiên. - THADS thị xã Duy Tiên. - UBND xã Tiên Sơn; - Các đương sự. - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Đông |