vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Trần Thị Yến Nh và anh Trần Văn Kh là vợ chồng.

2/. Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh Mai, sinh ngày 10/3/2023 cho chị Trần Thị Yến Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng: Buộc anh Trần Văn Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Huỳnh Mai 900.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Thị Yến Nhi - Trần Văn Khen"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Trần Thị Yến Nh và anh Trần Văn Kh là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ H
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/01/2024.
(V/v Tranh chấp ly hôn)

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU

- Th nh h n i n

ơ h

Th ph n - Ch a phi n a: Bà Thạch Thị Ngọc Bích

C c h i h nh n d n: Ông Nguyễn Minh Hoàng và bà Đỗ Kim Phụng

h

hi n a: Bà Đỗ Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện iể á nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 697/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1/. Nguy n đơn: Chị Trần Thị Yến Nh, sinh năm 2005

Địa chỉ: ấp Công Đ, xã Long Đ, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu

2/. Bị đơn: Anh Trần Văn Kh, sinh năm 1995

Địa chỉ: ấp Công Điền, xã Long Điền, huyện Đ H, Bạc Liêu.

(Chị Nh và anh Kh có đơn vắng ặ )

NỘI DUNG VỤ N

Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2023, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Trần Thị Yến Nh và anh Trần Văn Kh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tại địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định.

Nguyên nhân ly hôn: Theo chị Nh và anh Kh xác định do trong thời gian chung sống giữa anh chị bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện nay anh chị đã sống ly thân khoảng hơn 01 tháng nay nhưng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Chị Nh và anh Kh xác định không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị Nh yêu cầu ly hôn, anh Kh cũng đồng ý.

Về con chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung Trần Huỳnh M, sinh ngày 10/3/2023, hiện nay đang sống chung với chị Nh. Khi ly hôn chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị Nh nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Huỳnh M mỗi tháng 900.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Mai tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị tự thỏa thuận với nhau nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Chị Nh và anh Kh chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nh và anh Kh.

Về con chung: Về con chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung Trần Huỳnh M, sinh ngày 10/3/2023, hiện nay đang sống chung với chị Nh. Khi ly hôn chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị Nh nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về cấp dưỡng: Chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Huỳnh M mỗi tháng 900.000 đồng/tháng nên đề nghị nhận sử thỏa thuận của đương sự.

Về tài sản chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị tự thỏa thuận với nhau nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình chị Nh phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Yến Nh có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Trần Văn Kh. Anh Kh có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị Nh và anh Kh có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Chị Nh và anh Kh chung sống với nhau vào năm 2022, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, anh chị đã có con chung nhưng vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy việc không đi đăng ký kết hôn giữa chị Nh và anh Kh là đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do đó theo quy định của pháp luật thì hôn nhân giữa chị Nh và anh Kh không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay chị Nh yêu cầu ly hôn với anh Kh thì Hội đồng xét xử không giải quyết cho chị Nh và anh Kh ly hôn với nhau, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nh và anh Kh là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung Trần Huỳnh M, sinh ngày 10/3/2023, hiện nay đang sống chung với chị Nh. Khi ly hôn chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị Nh nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về cấp dưỡng: Chị Nh và anh Kh thống nhất thỏa thuận anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Huỳnh M mỗi tháng 900.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị tự thỏa thuận với nhau nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nh phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Trần Thị Yến Nh và anh Trần Văn Kh là vợ chồng.

2/. Về con chung: Giao con chung tên Trần Huỳnh Mai, sinh ngày 10/3/2023 cho chị Trần Thị Yến Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng: Buộc anh Trần Văn Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Huỳnh Mai 900.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11/2023.

Anh Trần Văn Kh có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được quyền cản trở.

3/. Về tài sản chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị tự thỏa thuận với nhau nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về nợ chung: Chị Nh và anh Kh thống nhất xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5/. Về án phí: Chị Trần Thị Yến Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009777 ngày 30 tháng 11 năm 2023. Anh Trần Văn Kh phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Trần Thị Yến Nh và anh Trần Văn Kh được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ