- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thanh K:"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thanh K: Xử buộc anh Dương Minh P trả nợ cho anh Hoàng Thanh K số tiền gốc: 1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2024/DSST. Ngày: 21-02-2024. V/v: TC HĐ vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH.
-Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy Vinh và ông Dương Quốc Phòng.
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2023/DSST ngày 09/10/2023 về việc:’’Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS, ngày 19/01/2024, giữa các dương sự:
-Nguyên đơn: Anh Hoàng Thanh K, sinh năm 1977.
Trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Q; có mặt.
-Bị đơn: Anh Dương Minh P, sinh năm 1988.
Trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Q.
Hiện đang thi hành án tại Trại giam Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày như sau: Ngày 30 tháng 03 năm 2020 anh Hoàng Thanh K có cho anh Dương Minh P vay 1.500.000,000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng với lãi suất 0,02%/ngày, tương đương 0,6%/tháng theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm cho vay; trong 03 tháng ( tháng 4,5,6/2020) anh Phú có trả cho anh K số tiền lãi 27.000.000 đồng; nhưng từ tháng 07/2020 đến nay anh Dương Minh P chưa trả cho anh K đồng tiền gốc và tiền lãi nào cả. Anh K làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án Nhân dân huyện Bố Trạch giải quyết cho anh K những yêu cầu sau:
Buộc anh Dương Minh P thanh toán cho anh Kỷ số tiền gốc là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
Buộc anh Dương Minh Pthanh toán cho anh K số tiền lãi từ tháng 07/2020 đến ngày phiên tòa sơ thẩm 21/02/2024 là 1.500.000.000 đồng x 0,6%/ x43 tháng= 387.000.000 đồng (tính từ tháng 7/2020 đến ngày 21/02/2024).
Kể từ ngày phiên tòa sơ thẩm 21/02/2024 trở đi đến khi anh P trả hết nợ anh K không yêu cầu anh P trả tiền lãi.
Trong bản khai bị đơn anh Dương Minh P trình bày: Ngày 30/3/2020 anh P có mượn của anh Hoàng Thanh K số tiền 1.500.000.000 đồng; từ tháng 3/2020 đến tháng 7/2020 thì anh P trả nợ vay theo thỏa thuận giữa hai bên. Tuy nhiên, từ tháng 7/2020 trở đi do làm ăn thua lỗ nên anh P không còn đủ khả năng trả nợ cho anh K. Hiện tại anh P đang thi hành án tại Trại Giam Đ. Anh P cam kết , sau khi chấp hành xong án phạt tù về làm ăn kinh tế, anh P sẽ trả cho anh K số tiền nợ.
Tại phiên tòa nguyên đơn không rút, bổ sung, thay đổi nội dung khởi kiện; vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại thôn B,xã H, huyện B, tỉnh Q nên Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu khởi kiện: Việc vay mượn tiền giữa anh Kỷ và anh Phú vào ngày 30/3/2020, hai bên thỏa thuận trong vòng 04 tháng sẽ trả nợ, từ khi cho vay đến khi khởi kiện anh K luôn yêu cầu anh P trả nợ, nhưng vì điều kiện anh P làm ăn khó khăn nên chưa trả được nợ, nguyên đơn và bị đơn điều công nhận như vậy, do đó Hội đồng xét xử kết luận thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn.
Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P (có xác nhận của Trại giam Đ); anh P đã làm bản tự khai (có xác nhận của Trại giam Đ) có trong hồ sơ vụ án, việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, nên Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật (phiên tòa lần thứ nhất đã hoãn).
Về giải quyết yêu cầu của đương sự:
-Xét trình bày và yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Ngày 30 tháng 3 năm 2020 anh Hoàn Thanh K có cho anh Dương Minh P vay 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng với lãi suất 0,02%/ngày, tương đương 0,6%/tháng theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm cho vay; hai bên có lập Giấy mượn tiền; trong tháng 03 tháng ( tháng 4,5,6/2020) anh P có trả cho anh K số tiền lãi 27.000.000 đồng; nhưng từ tháng 07/2020 đến nay anh Dương Minh P chưa trả cho anh K đồng tiền gốc và tiên lãi nào cả. Giấy mượn tiền ngày 30/3/2020 giữa anh K và anh P là hợp pháp, không nhầm lẫn, không gian dối, không ép buộc, hoàn toàn tự nguyện. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, cần chấp nhận.
- Xét trình bày của bị đơn anh Dương Minh P thấy rằng: Anh P thừa nhận ngày 30/3/2020 anh P có mượn của anh Hoàng Thanh K số tiền 1.500.000.000 đồng; từ tháng 3/2020 đến tháng 7/2020 thì anh P trả nợ vay theo thỏa thuận giữa hai bên. Tuy nhiên, từ tháng 7/2020 trở đi do làm ăn thua lỗ nên anh P không còn đủ khả năng trả nợ cho anh K. Hiện tại anh P đang thi hành án tại Trại giam Đ. Anh P cam kết , sau khi chấp hành xong án phạt tù về làm ăn kinh tế, anh P sẽ trả cho anh K số tiền nợ. Anh P trình bày có trả nợ cho anh K từ tháng 3/2024 đến tháng 7/2024, nhưng không nêu rõ đã trả bao nhiêu? Trả tiền gốc hay tiền lãi?; không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh đã có trả một phần nợ cho anh K, anh K chỉ thừa nhận anh P chỉ trả tiền lãi trong 03 tháng( 4,5,6/2020) số tiền 27.000.000 đồng. Do vậy, chấp nhận anh P đã trả tiền lãi cho anh K 03 tháng (tháng 4,5,6/2020) số tiền 27.000.000 đồng là có cơ sở.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Nguyên đơn anh Hoàng Thanh K yêu cầu anh Dương Minh P trả nợ số tiền gốc 1.500.000.000 đồng và tiền lãi 387.000.000 đồng là có căn cứ, nên chấp nhận.
Trong bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Hoàng Thanh K trình bày không yêu cầu anh Dương Minh P trả tiền lãi kể từ ngày phiên tòa sơ thẩm (21/02/2024) cho đến khi anh P trả hết nợ, nên không xét.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Dương Minh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước; anh K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463,465,466,468,470 Bộ luật dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Thanh K: Xử buộc anh Dương Minh P trả nợ cho anh Hoàng Thanh K số tiền gốc: 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng và tiền lãi 387.000.000 đồng (b trăm tám mươi bảy triệu) đồng; tổng cộng: 1.887.000.000 (một tỷ tám trăm tám mươi bảy triệu) đồng.
2.Về án phí: Buộc anh Dương Minh P phải chịu 68.610.000 (sáu mươi tám triệu sáu trăm mười nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Anh Hoàng Thanh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Hoàng Thanh K được nhận lại số tiền 33.360.000 (ba mươi ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai số 0002826 ngày 09 /10/2023.
Kể từ ngày xét xử sơ thẩm(21/02/2024) cho đến khi trả hết nợ, nguyên đơn anh Hoàng Thanh K không yêu cầu anh Dương Minh P trả tiền lãi, nên không xét.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/02/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch(2 bản); -Anh Hoàng Thanh K; -Anh Dương Minh P; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thanh Vân |