vanban.org

Bản án 03/2024/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc anh Mai Hữu Chiến phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 204.853.961đ; tiền lãi: tính từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ); tổng cộng 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng NN-PTNTVN-Mai Hữu C"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày: 01-02- 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thắm

2. Ông Trần Văn Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Mai Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST ngày 19 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-DS, ngày 09 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS, ngày 24 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Địa chỉ: Số 02, Láng Hạ, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn Vượng - Chức vụ: Tổng giám đốc.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Minh Hùng - Sinh năm 1983; Chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách điều hành Agribank chi nhánh huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa;

(Văn bản ủy quyền ngày 15/11/2023 thay thế cho Quyết định ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người đại diện theo pháp luật số 2664/QĐ-NHNN-PC, ngày 01/12/2022).

- Người được ủy quyền lại: Ông Lê Hoàng Thịnh - Sinh năm: 1991; Chức vụ: Cán bộ pháp chế - Phó trưởng phòng phụ trách Kế hoạch kinh doanh; (có mặt)

Địa chỉ: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (Văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 8 năm 2023);

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng: Luật sư Ông Phạm Văn Mạnh (vắng mặt) và Luật sư: Bà Trịnh Thị Tuấn thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa - Công ty Luật Năm Châu.(có mặt)

Địa chỉ: 76 Triệu Quốc Đạt, phường Điện Biên, TP. Thanh Hóa

2/ Bị đơn: Anh Mai Hữu Chiến - Sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn Đông Kinh, xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Chị Nguyễn Thị Hương Giang - Sinh năm 1990

Địa chỉ: SN 125, đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Ngọc Trạo, TP.Thanh Hóa

Nơi làm việc: Ngân hàng Agribank, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (tiểu khu Hưng Long, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa); (có mặt)

3.2/ Anh Đinh Sĩ Thức - Sinh năm 1987

Đơn vị công tác: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Hậu Lộc.

Địa chỉ: Khu Tân Mỹ, thị trấn Hậu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.(vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.3/ Mai Thị Thu Hà - Sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Đông Kinh, xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2023, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn phục vụ nhu cầu đời sống của anh Mai Hữu Chiến (vợ là chị Nguyễn Thị Hương Giang), Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Thạch Thành, Bắc Thanh Hóa đã đồng ý cho anh Chiến vay vốn, hình thức tín chấp lương hàng tháng theo hợp đồng tín dụng số 3507-LAV-201602478, ngày 24/3/2016, số tiền vay 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng); mục đích vay: chữa chữa xây dựng mới nhà ở, mua sắm vật dụng sinh hoạt; thời hạn vay 36 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng; áp dụng bảo đảm tiền vay: Cho vay không bảo đảm bằng tài sản. Quá trình vay, anh Chiến vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Ngân hàng đã thông báo nhiều lần nhưng anh Chiến không có động thái trả nợ. Tạm tính đến ngày 15/7/2023, anh Chiến còn nợ tiền gốc 204.853.961đ; tiền lãi: 199.448.444đ; tổng cộng: 404.302.405đ (Bốn trăm linh bốn triệu ba trăm linh hai nghìn bốn trăm linh năm đồng)

Ngân hàng yêu cầu buộc anh Mai Hữu Chiến và chị Nguyễn Thị Hương Giang phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc và lãi trên cho Ngân hàng và số tiền lãi phát sinh từ ngày 15/7/2023 cho đến khi trả hết nợ, theo lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng.

* Bị đơn anh Mai Hữu Chiến trình bày: Về số tiền Ngân hàng khởi kiện anh vay theo hợp đồng tín dụng là đúng. Khi vay tiền, anh là người trực tiếp ký vào hợp đồng tín dụng, mục đích sử dụng vào việc đầu tư kinh doanh cá nhân, không liên quan đến chị Giang. Quá trình làm ăn, do không thuận lợi, nên bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng. Hiện tại, anh không thể vay tiền của ai trả cho Ngân hàng để hưởng chính sách. Anh có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng nhưng phải cho anh thời gian để tìm việc làm, có thêm thu nhập mới có cơ hội để trả nợ. Nếu Ngân hàng tạo điều kiện thì anh có ý kiến:

- Trả nợ hàng tháng, mức trả là tiền gốc là 1.000.000đ đến 2.000.000đ/tháng cho đến khi trả nợ xong;

- Nếu Ngân hàng đồng ý giảm trừ số tiền nợ của anh còn lại là 50.000.000đ thì anh sẽ vay mượn để trả nợ cho Ngân hàng trong thời gian sớm nhất.

Về số tiền vay tại Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Thạch Thành, sau khi vay , cùng ngày anh đã chuyển 65.000.000đ vào tài khoản cho chị Giang để nhờ chị Giang (vợ trước đây của anh) trả cho anh Đinh Sĩ Thức: 40.000.000đ là khoản nợ anh vay tháng 4 hoặc tháng 5 năm 2015 để đầu tư vào kinh doanh vận tải của cá nhân, không liên quan đến chị Giang, vì thời gian này anh và chị Giang chưa kết hôn. Đến tháng 7/2015, anh và chị Giang mới xây dựng gia đình với nhau; số tiền 25.000.000đ anh nhờ chị Giang chuyển vào số tài khoản chị Hà (em gái) để chuyển cho lái xe để chi phí xăng xe, đi lại trên đường.

Nếu Ngân hàng không đồng ý theo các ý kiến của anh đề xuất thì số tiền nợ gốc là 204.853.961đ; lãi tạm tính đến ngày 15/7/2023 là 199.448.444đ và lãi suất tính tiếp theo từ 16/7/2023 đến khi vụ án được giải quyết xong thì anh xin được trả tiền gốc, còn lãi và lãi phát sinh thì anh xin Ngân hàng miễn cho anh.

* Luật sư Tuấn (Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng): thống nhất như nội dung của nguyên đơn đã trình bày.

* Ý kiến chị Giang: Vào ngày 24/3/2016 anh Chiến có chuyển vào tài khoản 3505207000874 của chị mở tại ngân hàng Agribank Nga Sơn số tiền là 65.000.000đ. Tuy nhiên, chị không được sử dụng số tiền trên để chi cho cuộc sống gia đình mà số tiền này anh Chiến nhờ chị thanh toán 02 khoản nợ của anh Chiến, gồm:

- Chuyển vào tài khoản 3505205014739 (chủ tài khoản là Mai Thị Thu Hà, em gái Chiến; số tiền 25.000.000đ. Đây là giao dịch tiền mặt nên có dấu thu của Ngân hàng, chị chỉ biết chuyển vào số tài khoản của chị Hà để chuyển cho lái xe chi trả đường dài, còn lại chị không biết tên lái xe.

- Ngày 24/3/2016, trích số tài khoản 3505207000874 của chị để chuyển số tiền 40.000.000đ sang tài khoản 3505207000851 của anh Đinh Sĩ Thức; mục đích là trả số tiền của anh Chiến vay trước đó. Giao dịch này là giao dịch trích tài khoản nên không có dấu thu của Ngân hàng. Hiện tại anh Thức đang công tác tại ngân hàng Agribank, chi nhánh Hậu Lộc. Số tiền này chị và anh Chiến cũng hỏi vay anh Thức nhưng khi anh Thức cho vay lại chuyển cho anh Chiến vay để sử dụng riêng.

* Ý kiến của anh Thức trình bày: Anh, anh Chiến và chị Giang có mối quan hệ đồng nghiệp.Tháng 5/2015, anh Chiến và chị Giang hỏi vay anh số tiền 40.000.000đ, khi đó anh có 01 sổ tiết kiệm đang gửi tại Ngân hàng nên đã tất toán cho vợ chồng chị Giang vay, khi giao tiền anh Chiến là người nhận tiền. Ngày 24/3/2016, chị Giang chuyển vào tài khoản của anh để trả số nợ anh cho anh Chiến vay.

- Ý kiến chị Hà trình bày: về số tiền chị Giang chuyển vào tài khoản của chị để đưa cho lái xe chi trả đường dài, không liên quan đến việc chị đi rút tiền hay sử dụng nguồn tiền này.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các bên không thống nhất được giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa ngày 24/01/2024, bị đơn anh Chiến đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng đề nghị anh Chiến phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc là 204.853.961đ; tiền lãi: tính từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ); tổng cộng: 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng).

Đối với bị đơn anh Chiến, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.Anh đồng ý số tiền nợ gốc và lãi như Ngân hàng yêu cầu. Anh đề nghị Ngân hàng cho anh thêm thời gian thu xếp trả nợ. Số tiền nợ Ngân hàng là anh vay cá nhân, không liên quan đến chị Giang nên đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo quyền lợi.

Đối với ý kiến chị Giang vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày, chị đề nghị Tòa án xem xét đảm bảo quyền lợi cho chị. Đối với anh Thức vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày, đề nghị Tòa án xem xét.

* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bà Trịnh Thị Tuấn:

- Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh Chiến phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 204.853.961đ; tiền lãi: tính từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ); tổng cộng: 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng.

- Nếu anh Chiến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, buộc chị Giang có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng theo quy định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn; người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Giang, anh Thức đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn anh Chiến và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hà chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định;

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc anh Mai Hữu Chiến phải thanh toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo quy định; về án phí: anh Chiến phải chịu án phí DSST theo quy định; hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.

* Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng của Ngân hàng đối với bị đơn: Theo hợp đồng tín dụng số 3507-LAV-201602478, ngày 24/3/2016, số tiền anh Chiến vay 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: anh Chiến khi vay tiền không thế chấp tài sản, mà tín chấp từ lương của bên vay.Quá trình thực hiện hợp đồng anh Chiến thanh toán được 95.146.039đ tiền nợ gốc. Do anh Chiến vi phạm về thời hạn thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, đã được Ngân hàng ra Thông báo nợ quá hạn và lập biên bản về giải quyết nợ quá hạn nhiều lần nhưng anh Chiến không động thái trả nợ.

Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu chấm dứt việc cho vay theo hợp đồng tín dụng trên và thu hồi nợ trước hạn đối với anh Mai Hữu Chiến, cụ thể: tiền gốc còn nợ 204.853.961đ; về tiền lãi: từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ).

Như vậy, tiền nợ gốc và lãi Ngân hàng yêu cầu anh Chiến phải thanh toán là 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng), Hội đồng xét xử xét thấy: anh Chiến không thực hiện đúng cam kết, vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến kỳ hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, buộc anh Chiến phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả nợ tiền gốc và lãi như trên là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu của bị đơn: Theo anh Chiến trình bày: anh đồng ý số tiền nợ gốc và lãi Ngân hàng đề nghị tính đến ngày 09/01/2024, tổng cộng là 421.015.075đ (Bốn trăm hai mốt triệu không trăm mười lăm nghìn không trăm bảy lăm đồng), cũng như lãi suất phát sinh đến khi vụ án được giải quyết, anh hoàn toàn nhất trí. Khi vay, anh Chiến tín chấp sổ lương để thực hiện việc vay tiền. Hiện tại, anh Chiến đang bị thất nghiệp, chưa có việc làm để tạo thu nhập. Anh Chiến xin Ngân hàng thời gian để thu xếp tiền trả nợ.

Xét đề nghị của anh Chiến, HĐXX thấy rằng: thời điểm vay tiền tại Ngân hàng, anh Chiến là cán bộ của Ngân hàng. Khi làm thủ tục vay vốn, anh Chiến tín chấp số lương để vay tiền, là người trực tiếp ký vào hợp đồng tín dụng, không có người thừa kế nghĩa vụ ký vào hợp đồng tín dụng vay. Do anh Chiến không còn công tác trong hệ thống Ngân hàng nên Ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ khấu trừ lương hàng tháng của anh Chiến để đối trừ số tiền nợ đã vay. Số tiền anh vay tại Ngân, anh Chiến đã chuyển 65.000.000đ vào tài khoản của chị Giang, mục đích nhờ chị Giang chuyển trả khoản nợ cho anh Thức là 40.000.000đ và chuyển vào tài khoản của chị Hà 25.000.000đ. Anh Chiến đề nghị xin thời gian để thu xếp trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời anh khẳng định số nợ này là cá nhân anh vay và chịu trách nhiệm với Ngân hàng, không có liên quan đến chị Giang. Xét thấy, anh Chiến vay tiền tại Ngân hàng nông nghiệp , chi nhánh Thạch Thành bắc Thanh Hóa theo hợp đồng tín dụng trên là khoản nợ riêng của anh Chiến không liên quan đến chị Giang là có căn cứ nên chấp nhận; việc anh Chiến đề nghị được trả nợ dần là không được chấp nhận xem xét. Do vậy, buộc anh Chiến phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và các khoản lãi phát sinh là 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng) cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Xét yêu cầu của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đối với chị Giang: số tiền anh Chiến chuyển vào tài khoản cho chị 65.000.000đ là đúng. Số tiền này anh Chiến trình bày là nằm trong nguồn tiền anh vay từ Ngân hàng nông nghiệp. Khi vay tiền, anh Chiến là người trực tiếp ký vào hợp đồng tín dụng vay vốn nên không liên quan đến chị. Xét thấy, thời điểm anh Chiến vay tiền tại Ngân hàng thì chị Giang và anh Chiến đang tồn tại quan hệ hôn nhận, nhưng theo hợp đồng tín dụng vay vốn thì anh Chiến trực tiếp ký, không có chữ ký của chị Giang tại mục người kế thừa nghĩa vụ.

Số tiền chị Giang chuyển khoản cho anh Thức 40.000.000đ là khoản nợ riêng của anh Chiến vay anh Thức vào tháng 5/2015, thời gian này chị Giang và anh Chiến chưa xây dựng gia đình. Chị Giang được anh Chiến nhờ chuyển tiền trả nợ cho anh Thức là hoàn toàn phù hợp về số tiền, thời gian thực hiện giao dịch chuyển tiền. Tuy nhiên, không có cơ sở để buộc chị Giang liên đới chịu trách nhiệm trả nợ số tiền anh Chiến vay tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 3507-LAV-201602478, ngày 24/3/2016. Do đó, chị Giang không phải chịu trách nhiệm liên đới để trả nợ cùng anh Chiến đối với số tiền như Ngân hàng đang yêu cầu.

Đối với việc nhận tiền của anh Thức và chị Hà thông qua việc chuyển tiền từ tài khoản của chị Giang, đây là giao dịch dân sự vay mượn cá nhân của anh Chiến với anh Thức và nhờ việc riêng của anh Chiến với chị Hà nên không liên quan đến việc vay tiền của anh Chiến tại Ngân hàng.

Xét yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn:

- Luật sư đề nghị buộc anh Chiến phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc 204.853.961đ; về tiền lãi: từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ). Tổng cộng là 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng) và chịu khoản lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo cho đến khi thi hành án xong. Xét yêu cầu này có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét.

- Nếu anh Chiến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, luật sư đề nghị xem xét buộc chị Giang phải thực hiện nghĩa vụ liên đới để trả khoản nợ trên cho Ngân hàng theo quy định. Xét yêu cầu này không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về án phí: Anh Mai Hữu Chiến phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng Nông nghiệp PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Thạch Thành Bắc Thanh Hóa đã nộp được hoàn trả theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc anh Mai Hữu Chiến phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 204.853.961đ; tiền lãi: tính từ ngày 24/3/2016 đến ngày 01/02/2024 là 218.320.616đ (trong đó: lãi quá hạn là 197.325.950đ; lãi trong hạn là 20.994.666đ); tổng cộng 423.174.577đ (Bốn trăm hai ba triệu một trăm bảy tư nghìn năm trăm bảy bảy đồng) theo hợp đồng tín dụng số 3507-LAV-201602478, ngày 24/3/2016.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Mai Hữu Chiến còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2/ Về án phí: Anh Mai Hữu Chiến phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 20.926.983đ (Hai mươi triệu chín trăm hai sáu nghìn chín trăm tám ba đồng).

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Thạch Thành Bắc Thanh Hóa, số tiền 10.086.000đ (Mười triệu không trăm tám sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0016573 ngày 01/8/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

3/ Quyền kháng cáo: Ngân hàng Nông nghiệp PTNT Việt Nam, chị Giang có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Chiến, chị Hà, anh Thức có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Nga Sơn;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Các đương sự;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;

- Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh;

- Chi cục THADS huyện Nga Sơn;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Huệ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thắm

Trần Văn Hà

Lê Thị Huệ

Cỡ chữ