vanban.org

Bản án 03/2024/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5 và cụ Phạm Thị M là quyền sử dụng đất 1.

Xác nhận 01 lán tôn, cổng, nhà cấp 4 lợp tôn diện tích 32,6m2, 01 công trình phụ 14,7m2, 01 nhà để xe, diện tích 11,1m2, tƣờng bao phía trƣớc nhà, cổng là của vợ chồng ông Nguyễn Văn H4 và bà Đặng Thị H; Xác nhận 01 nhà mái bằng 74,6m2, công trình phụ 16,8m2, phần móng nhà 63,3m2, cổng (hai trụ cổng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "NĐ: Anh Nguyễn Văn N- BĐ: ông Nguyễn Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5 và cụ Phạm Thị M là quyền sử dụng đất 1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày 31-01-2024
“V/v tranh chấp chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Chìu

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký TAND huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2023/TLST-DS ngày 18/5/2023 của TAND huyện Tứ Kỳ về việc chia di sản thừa kế, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST–DS ngày 19/01/2024, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1997.

+ Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn N: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1980. Đều ở địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H1 (tên gọi khác là H-1), sinh năm 1976.

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Tổ 1.., phƣờng H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

(Bà H2 ủy quyền cho bà D tham gia tố tụng)

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1963, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, có mặt.

+ Bà Đặng Thị H, sinh năm 1980, có mặt.

+ Bà Hồ Mộng L, sinh năm 1983, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1946 và bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1950

Đều trú tại: Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Ông T1, bà N1 đều vắng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

+ UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Ngƣời đại diện theo pháp luật- Ông Nguyễn Trung K- Chủ tịch UBND xã N. Ngƣời đại diện theo ủy quyền ông Phan Trọng L- Công chức địa chính xây dựng xã N, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1966;

Trú quán: Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

+ Bà Trần Thị L1, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Ông H vắng mặt, bà L có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N (do bà ĐặngThị Hợi đại diện theo ủy quyền, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh Nguyễn Văn N là con của bà và ông Nguyễn Văn H4 và là cháu nội của cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5) và cụ Phạm Thị M. Cụ Nguyễn Xuân H5 và cụ Phạm Thị M sinh đƣợc 06 ngƣời con, gồm: Bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H4 và ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), ngoài ra hai cụ không có con riêng hoặc con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ H5 là cụ Nguyễn Văn L chết năm 1990, cụ Nguyễn Thị N chết năm 1995, bố mẹ cụ M là cụ Phạm Văn T chết năm 1980, cụ Đặng Thị N chết năm 1986 và đều chết trƣớc cụ H5 và cụ M. Khi bố mẹ ông còn sống, các cụ có khối tài sản chung là các thửa đất số 44, diện tích 1.049m2 và thửa đất số 45, diện tích 219m2 đất ao tại Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ. Nguồn gốc thửa đất số 44 của ông cha, đƣợc đăng ký trong hồ sơ 299/Ttg tại sổ mục kê và bản đồ, diện tích 1.020m2, còn thửa số 45, diện tích 227m2 đất Ao (ghi chú sổ mục kê cụ Nguyễn Văn H5). Đến ngày 11/01/2000, đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5), gồm thửa số 44, diện tích 1.049m2 (trong đó có 300m2 đất ở, 200m2 đất trồng cây lâu năm (50 năm) và 509m2 đất trồng cây lâu năm (lâu dài) và thửa số 45, diện tích 219m2 đất ao. Năm 1993, khi Nhà nƣớc chia đất nông nghiệp (đất 03), hộ cụ H5 và cụ M có đƣợc chia ruộng nông nghiệp, theo quy định, mỗi khẩu ở địa phƣơng đƣợc chia 01 sào 06 thƣớc bằng 504m2, còn cụ thể chia cho mấy khẩu, gồm những ai thì bà không nắm đƣợc. Chồng bà ông Nguyễn Văn H4 cũng đƣợc chia ruộng cùng với hộ cụ H5, đến năm 1997, ông H4 lấy bà và ở riêng nên đƣợc địa phƣơng chia đủ 01 sào 06 thƣớc. Nhƣ vậy, chồng bà không bị trừ đất nông nghiệp ở ngoài đồng vào đất vƣờn của bố mẹ chồng bà nữa. Còn những ngƣời khác có bị trừ hay không thì bà không nắm đƣợc. Cụ Phạm Thị M chết ngày 01/01/2014, đến ngày 21/6/2014, cụ Nguyễn Xuân H5 chết, trƣớc khi chết không để lại di chúc. Trên đất trƣớc đây bố mẹ có xây nhà cấp 4 lợp proxi măng, sân trạt vữa xi măng, công trình phụ. Thời điểm bố mẹ còn sống, phía sau vƣờn, vợ chồng bà, vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ H5 cùng lập vồng, thành các luống để trồng vải. Sau khi hai cụ chết, vợ chồng anh Nguyễn Xuân H1 chặt vải, san bằng ra để sử dụng, ông H1 có mua đất ở bên cạnh lấp vào vƣờn phía sau. Khi họ múc cừ thì ông H1 có trả công để họ múc bùn đất đổ vào vƣờn. Sau đó thì ông H1 có mua đất, gạch vỡ đổ phần đất bên cạnh nhà mà ông H1 đang ở hiện nay. Bà xác định vợ chồng ông H1 có công vƣợt lập nhƣng không nhiều tiền nhƣ ông H1 đã trình bày. Anh N đồng ý trả công sức vƣợt lập trên phần đất đƣợc chia nhƣng trên cơ sở hợp lý, đúng pháp luật.

Xác định tài sản của cụ H5, cụ M để lại gồm (diện tích đất theo đo đạc hiện trạng đo đạc đã đƣợc lồng ghép với giấy chứng nhận gồm: 219m2 đất ao và 1.088,2m2 đất), có 01 nhà ba gian lợp pro xi măng xây dựng từ năm 1990, 01 sân trạt, 01 cây dừa to, ngoài ra không còn tài sản gì khác: Xác định các tài sản khác trên đất do vợ chồng ông H1, bà L xây dựng, kiến thiết gồm: Nhà mái bằng bê tông; cổng (hai trụ cổng, hai cánh cổng); tƣờng bao phía trƣớc giáp đƣờng xóm; tƣờng xây gạch ba banh cuối thửa đất, tƣờng bao giáp nhà ông T1 từ cuối công trình phụ trở về hết đất và một số cây trên đất nhƣ đã định giá: 13 cây mít; 18 cây cau nhỏ; 09 cây dừa nhỏ mới trồng; 01 cây chay; 01 cây khế; 02 cây đào đã nở hoa; 02 cây đu đủ; móng nhà bê tông, sân bê tông trƣớc nhà mái bằng; Các tài sản của vợ chồng bà làm gồm có: tƣờng bao phía trƣớc, cổng, 01 lán tôn, 01 nhà cấp 4, công trình phụ, nhà để xe.

Đối với việc ông H1 xuất trình bản pho to đơn chuyển đất ở cho con và cháu ngày 15/6/2007 của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) thì bà xác định đây không phải là di chúc của cụ vì nội dung không rõ ràng, cụ H5 cũng chỉ dừng lại ở việc làm giấy đề nghị trên, nội dung cũng không thể hiện đề nghị tách đất từ đâu đến đâu. Ông Nguyễn Văn H4 chết ngày 04/08/2001, trƣớc khi chết không để lại di chúc gì liên quan đến tài sản của bố mẹ mà đáng lẽ ra còn sống thì ông sẽ đƣợc hƣởng cũng nhƣ tài sản của vợ chồng. Vì vậy anh N là ngƣời thừa kế thế vị của ông H4 có quyền đối với di sản của cụ H5, cụ M. Đã nhiều lần anh N và bà trao đổi với ông H1 chia đất của cụ hai cụ cho anh N nhƣng ông H1 không đồng ý nên anh N mới phải khởi kiện chia thừa kế. Đối với biên bản làm việc mà các chị em bà đã thỏa thuận trƣớc đây là trích lối đi vào giáp mé bờ cừ, còn lại chia theo chiều ngang thửa đất, nếu chia nhƣ vậy sẽ bào nhà, công trình mẹ con bà đang sử dụng, hiện mẹ con bà không có chỗ ở nào khác, hơn nữa thửa đất đã bám mặt ngõ nên nguyên đơn đề nghị Tòa án cứ chia nhƣ sau:

Đối với phần đất ao đã đƣợc đơn vị lồng ghép diện tích 219m2, bà cũng nhƣ các đồng thừa kế vẫn nhất trí tự nguyện cho vợ chồng ông H1, bà L; Phần diện tích đất còn lại chia làm ba phần bằng nhau, trong đó chia cho ông H1, bà L phần đất có vị trí là móng nhà bê tông do vợ chồng ông H1, bà L xây; phần ở giữa chia cho bốn bà gồm: Bà H2, bà T, bà D, bà H3; diện tích còn lại tại vị trí có nhà của vợ chồng bà, chia cho anh N đƣợc đứng tên sử dụng và đƣợc quyền sử dụng các tài sản nhà, công trình của vợ chồng bà, bà tự nguyện không yêu cầu anh N phải thanh toán trả bằng tiền, không yêu cầu anh N phải trả công sức.

Đối với phần đất mà vào nhà, sân trạt của bố mẹ bà, bà đề ghị rỡ ngôi nhà của cụ H5, cụ M đi vì không còn giá trị, đối với cây dừa của cụ H5, cụ M nằm trên đất của ai đƣợc chia thì ngƣời đó đƣợc quyền sử dụng; đối với công sức san lấp, bà xác định vợ chồng ông H1, bà L có công sức san lấp, tối đa chỉ khoảng 20.000.000 đồng; ai đƣợc chia bao nhiêu thì trả công sức san lấp cho vợ chồng ông H1, bà L bấy nhiêu. Đối với các cây trồng trên đất do vợ chồng ông H1, bà L trồng, trên phần đất của anh N đƣợc chia, đề nghị ông H1, bà L đánh chuyển đi nơi khác. Đối với đoạn tƣờng bao phía trƣớc và phía sau đƣợc chia bao nhiêu, anh N nhất trí trả giá trị cho vợ chồng ông H1, bà L.

- Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyên Xuân H1 (tức H-1) trình bày: Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5) và cụ Phạm Thị M. Hai cụ sinh đƣợc 08 ngƣời con, trong đó có bà Nguyễn Thị Hợp, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1967 đều chết năm 1974 (chết từ khi còn nhỏ, chƣa có chồng con), còn lại 6 ngƣời gồm: Bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H4 và ông, ngoài ra hai cụ không có con riêng hoặc con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ H5, bố mẹ cụ M có họ tên và đều đã chết trƣớc bố mẹ ông nhƣ bà H đã trình bày là đúng.

Nguồn gốc thửa đất số 44, diện tích 1.049m2 và thửa số 45, diện tích 219m2 đất ao đều ở tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N đã đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5) ngày 11/01/2000, có nguồn gốc do nhà nƣớc cấp năm 1972. Khi đo đạc thửa đất theo Chỉ thị 299, ông không để ý thửa đất bao nhiêu m2 vẫn đứng tên bố ông. Năm 1993, khi Nhà nƣớc chia đất nông nghiệp (đất 03), hộ cụ H5 và cụ M có đƣợc chia ruộng nông nghiệp (đất 03), theo quy định, mỗi khẩu ở địa phƣơng đƣợc chia 01 sào 06 thƣớc bằng 504m2, địa phƣơng có trừ đất nông nghiệp ngoài đồng vào đất vƣờn thừa, tổng bị trừ 10 thƣớc bằng 240m2 của 05 khẩu gồm bố mẹ ông, ông H4, bà T và ông, mỗi ngƣời bị trừ 02 thƣớc. Năm 2005-2006 khi thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa thì do các con đã tách khẩu ở riêng nên địa phƣơng trả đủ ruộng ngoài đồng, diện tích bị trừ vẫn là 10 thƣớc nhƣng trừ của bố mẹ ông.

Khi còn sống, bố mẹ ông có tạo dựng đƣợc ngôi nhà ba gian, bếp, sân. Do các chị gái lớn đi xây dựng gia đình ở riêng, nên thửa đất chỉ còn hai cụ, vợ chồng ông H4 và vợ chồng ông ở trên đất. Trong đó vợ chồng ông H4 làm 01 nhà cấp 4 lợp tôn, bếp đổ mái bằng. Ông kết hôn với bà Hồ Mộng L năm 2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sinh sống trên thửa đất đó, năm 2011, vợ chồng ông san lấp ao, vƣờn. Tổng số tiền bơm cát tôn tạo các lần (03) lần là 119 triệu đồng. Ngoài ra vợ chồng ông còn xây tƣờng bao phía trƣớc và phía sau nhà và giáp vƣờn ông T1, trồng một số cây mít, dừa trên đất. Năm 2011, bố mẹ đã cho ông diện tích đất ao đã lấp, khi cho chỉ bằng miệng, không có giấy tờ gì, sau đó ông đã xây nhà mái bằng, công trình trên đất, các chị em trong gia đình đều biết và không ai phản đối gì. Nay, quan điểm của ông đề nghị trong tổng số diện tích đất còn lại 1.049m2, trích ra một phần làm lối đi ƣớc tính chiều rộng khoảng 02m, chiều dài theo kích thƣớc thửa đất, diện tích đất còn lại chia theo di chúc của cụ H5 ngày 15/6/2007, trong đó chia cho anh N 240m2, ông đƣợc 240m2, phần khuôn viên đất có nhà ba gian để lại làm nhà thờ, còn lại chia cho các bà gồm Hiến, D, H, T diện tích đất 280m2 ở phía cuối vƣờn. Đối với cây trồng, tƣờng bao của vợ chồng ông nằm trên đất của ai đƣợc giao thì ngƣời đó đƣợc quyền sử dụng. Đối với công sức san lấp của vợ chồng ông, ai đƣợc chia bao nhiêu thì phải trả trả cho vợ chồng ông tƣơng ứng với khối lƣợng san lấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn gồm các bà Nguyễn Thị D (vừa là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H2), Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T đều trình bày thống nhất về quan hệ nhân thân với cụ H5, cụ M, số ngƣời con hai cụ sinh đƣợc cũng nhƣ nguồn gốc thửa đất và các tài sản trên đất của bố mẹ để lại đến thời điểm hiện nay, số tài sản mà vợ chồng ông H1 và số tài sản mà vợ chồng ông H4 đã xây dựng trên đất của bố mẹ và kết quả thẩm định tại chỗ nhƣ anh N, bà H đã trình bày. Các bà đều thống nhất xác định bố mẹ cụ H5, cụ M đều đã chết từ lâu và chết trƣớc các cụ. Khi địa phƣơng chia đất nông nghiệp cho hộ cụ H5 có trừ đất 03 ngoài đồng vào đất vƣờn thừa, tổng diện tích bị trừ là 10 thƣớc của 05 khẩu, tỷ lệ bị trừ là 01 m2 đất vƣờn bằng 01 m2 ruộng. Khi dồn điền đổi thửa các năm 2003 và 2016 gắn với chỉnh trang đồng ruộng thì hộ ông H4 và ông H1 (tức H-1) đã tách khẩu nên đƣợc chia đủ ruộng ngoài đồng. Đối với bà T năm 2003 vẫn nằm trong hộ cụ H5, cụ M nhƣng vẫn đƣợc chia đủ ruộng 01 sào 06 thƣớc ở ngoài đồng. Bố mẹ vẫn bị trừ vào diện tích vƣờn thừa là 240m2 nhƣng trừ vào vƣờn của cụ H5, cụ M. Nhƣ vậy, mặc dù hai cụ bị trừ đất ngoài đồng vào đất vƣờn thừa, do các cụ chết nên vẫn là di sản của hai cụ.

Về thời gian bố mẹ các bà chết nhƣ bà H đã trình bày, trƣớc khi chết các cụ không để lại di chúc, đối với tài liệu là đơn chuyển đất ở cho con và cháu ngày 15/6/2007 của cụ H5 do ông H1 xuất trình, các bà xác định đây không phải là di chúc vì nội dung chỉ là đơn đề nghị, không rõ ràng về vị trí, việc tặng cho không làm thủ tục tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Vì vậy nhất trí với phƣơng án chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại nhƣ quan điểm của nguyên đơn, riêng phần diện tích đất ao 219m2 cho vợ chồng ông H1, bà L. Phần còn lại chia làm ba phần bằng nhau, 4 chị em các bà nhận phần đất ở giữa đứng tên chung của bốn ngƣời gồm: bà H2, bà D, bà H3, bà T,. Mặc dù chia theo pháp luật, đáng lẽ bốn chị em bà sẽ đƣợc hƣởng nhiều hơn, tuy nhiên, 04 chị em bà tự nguyện không yêu cầu ông H1, bà L và anh N phải trả giá trị chênh lệch tài sản.

Đối với phần đất chia cho anh N, ông H1, bà L có vào vào nhà, sân trạt của bố mẹ, các bà tự nguyện rỡ ngôi nhà của cụ H5, cụ M vì không còn giá trị, đối với cây dừa của cụ H5, cụ M nằm trên đất của ai đƣợc chia thì ngƣời đó đƣợc quyền sử dụng; đối với công sức san lấp, chị em các bà cũng đều xác định vợ chồng ông H1, bà L có công sức san lấp, nhƣng chỉ tối đa hết 20.000.000 đồng; ai đƣợc chia bao nhiêu thì trả công sức san lấp cho vợ chồng ông H1, bà L bấy nhiêu. Đối với các cây trồng trên đất do vợ chồng ông H1, bà L trồng, nằm trên phần đất 04 chị em các bà, đề nghị ông H1, bà L đánh chuyển đi nơi khác. Đối với đoạn tƣờng bao phía trƣớc và phía sau, nằm trên phần đất các bà đƣợc chia, chị em các bà nhất trí trả giá trị cho vợ chồng ông H1, bà L.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn bà Hồ Mộng L trình bày thống nhất với ông H1 về quan hệ nhân thân với cụ H5 và cụ M, số ngƣời con hai cụ sinh đƣợc cũng nhƣ nguồn gốc thửa đất và các tài sản trên đất của bố mẹ để lại đến thời điểm hiện nay, số tài sản mà vợ chồng bà và ông H4, bà H đã xây dựng trên đất. Bà nhất trí với quan điểm của ông H1, đề nghị chia di sản của cụ H5 và cụ M theo di chúc cụ H5 để lại. Bà đồng ý sáp nhập tài sản do vợ chồng bà đầu tƣ xây dựng trên đất của bố mẹ vào tài sản chung của vợ chồng đối với phần đất mà ông H1 đƣợc hƣởng của bố mẹ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T1 và bà Đỗ Thị N1 trình bày:

Vợ chồng ông và vợ chồng ông H1, bà L chỉ là hàng xóm, vợ chồng ông có thửa đất phía sau nhà cụ H5, cụ M đã đƣợc UBND huyện cấp giấy chứng nhận đứng tên Nguyễn Thanh T1. Mảnh đất phía trƣớc giáp đƣờng xóm là của bố mẹ ông, sau này tách cho ông và em ruột ông mỗi ngƣời một nửa. Phía trƣớc thửa đất theo hồ sơ địa chính là ngõ đi vào, một bên giáp với thửa đất ao của cụ H5 và một bên giáp đất của bố mẹ ông. Tuy nhiên ông không sử dụng phần đất đó làm lối đi mà đi qua phần đất của bố mẹ ông. Do cạnh giáp ranh ngõ đi về phía tay trái từ đƣờng vào giáp với ao cụ H5 nên con gái của vợ chồng ông đã xây tƣờng kè ao cho khỏi nở đất, xây từ dƣới đáy ao xây lên cao, tuy nhiên ở điểm cuối đất xây không đúng mốc, cụ thể là xây không hết đất (xây lùi lại), cụ thể từ điểm tƣờng đánh dấu sơn đỏ, ký hiệu điểm A12A đến điểm A10 trên sơ đồ mới đúng ranh giới. Phần diện tích 1,5m2 vẫn là đất thuộc ngõ đi của vợ chồng ông. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng ông có quan điểm thống nhất xác định theo ranh giới hiện trạng, nghĩa là từ điểm A12A, A12, A11 đến điểm A10 là ranh giới phân định mốc giới đất giữa ngõ đi vào đất của vợ chồng ông và đất của cụ H5 và vợ chồng ông không có yêu cầu, đề nghị gì, đề nghị Tòa án không đƣa vợ chồng ông vào tham gia tố tụng, trƣờng hợp phải tham gia tố tụng ông bà xin giải quyết vắng mặt. Đối với diện tích đất cụ H5, phía sau là vƣờn, trƣớc đó cũng cao tƣơng đƣơng với vƣờn của vợ chồng ông bà. Sau này, khi Công ty T lấy mặt bằng bên kia bờ cừ để làm trụ sở, vợ chồng ông H1 có gạt ít đất màu của Công ty thừa sang, độ sâu trung bình cũng chỉ 30cm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã N do ông Nguyễn Trung K đại diện theo pháp luật và ông Phan Trọng L đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:

Cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M là vợ chồng, hai cụ sinh đƣợc số ngƣời con nhƣ các đồng thừa kế đã kê khai, ngoài ra hai cụ không có con nuôi, không có riêng nào khác. Bố mẹ cụ H5 là cụ Nguyễn Văn L chết năm 1990, cụ Nguyễn Thị N chết năm 1995, bố mẹ cụ M là cụ Phạm Văn T chết năm 1980, cụ Đặng Thị N chết năm 1986 và đều chết trƣớc cụ H5 và cụ M, ông Nguyễn Văn H4 kết hôn với bà Đặng Thị H sinh đƣợc ngƣời con duy nhất là anh Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn H4 chết ngày 04/08/2001 nhƣ các giấy chứng tử mà UBND xã đã cung cấp cho Tòa án. Khi còn sống, cụ H5 và cụ M có các thửa đất 44, diện tích 1049m2 và thửa đất số 45, diện tích 219m2 đất ao tại Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ. Nguồn gốc thửa đất 44 của ông cha, đƣợc đăng ký trong hồ sơ 299/Ttg tại sổ mục kê và bản đồ, diện tích 1.020m2 còn thửa số 45, diện tích 227m2 đất Ao (ghi chú sổ mục kê Nguyễn Văn H5). Đến ngày 11/01/2000, đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ cấp giấy chứng nhận mang tên cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5), gồm thửa số 44, diện tích 1.049m2 (trong đó có 300m2 đất ở, 200m2 đất trồng cây lâu năm (50 năm) và 509m2 đất trồng cây lâu năm (lâu dài) và thửa số 45, diện tích 219m2 đất ao. Năm 1993, địa phƣơng có chia ruộng cho hộ gia đình cụ H5 cho 05 khẩu, theo quy định, mỗi khẩu ở địa phƣơng đƣợc chia 01 sào 06 thƣớc bằng 504m2 gồm vợ chồng cụ H5, ông H4, ông H1, bà T. Do sử dụng đất vƣờn nhiều nên địa phƣơng có trừ đất ngoài đồng vào đất vƣờn là 10 thƣớc Bắc bộ bằng 240m2, tỷ lệ bị trừ 01 m2 ruộng trừ 01m2 vƣờn. Năm 2003-2006, khi địa phƣơng dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, ông H4 lấy bà H, ông H1 đã tách khẩu ra ở riêng, bà T vẫn chung hộ với cụ H5 nhƣng vẫn đƣợc chia đủ suất ruộng ngoài đồng. Diện tích đất vẫn bị trừ 240m2 nhƣng trừ vào đất của cụ H5 và cụ M. Cụ Phạm Thị M chết ngày 01/01/2014, đến ngày 21/6/2014 cụ Nguyễn Xuân H5 chết, trƣớc khi chết không để lại di chúc, ông Nguyễn Văn H4 chết trƣớc cụ H5 và cụ M cũng không để lại di chúc gì liên quan đến đất cát của bố mẹ để lại mà nếu còn sống thì ông H4 sẽ đƣợc hƣởng. Nay, anh N là hàng thừa kế thế vị khởi kiện chia di sản thừa kề, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với phần đất giáp ranh về phía Đông mà tại buổi xem xét thẩm định ông T1 (hộ liền kề có ý kiến) là đất của ông bà ấy. UBND xã có ý kiến nhƣ sau: Vợ chồng ông T1, bà N1 có thửa đất phía sau giáp vƣờn của cụ H5, phía trƣớc thửa đất theo bản đồ cấp giấy là ngõ đi vào thửa đất của ông T1, một bên giáp ao cụ H5 và một bên giáp đất của bố mẹ ông T1. Do thửa đất phía trƣớc cũng là đất của bố mẹ ông T1 để lâu không ai sử dụng nên ông T1 mở lối đi trên phần đất của bố mẹ ra đƣờng xóm, ngõ đi trên sơ đồ thì vợ chồng ông T1 làm vƣờn. Do một bên giáp ao cụ H5 lên ông T1 đã xây tƣờng kè ao từ dƣới đáy ao lên cho khỏi nở đất, đoạn tƣờng xây cao từ điểm A13 đến A12 dài 19,64m hiện vẫn còn, đối với đoạn tƣờng kè ao đến mặt vƣờn từ điểm A12,A11,A10,A9,A8 hiện vẫn còn chân móng. Ông T1 và cụ H5 trƣớc đây còn sống, sau này vợ chồng ông H1, bà L sử dụng đều xác định mốc giời theo hiện trạng, phần diện tích 1,5m2 này, ông T1, bà N1 có ý kiến nhất trí theo hiện trạng, UBND xã cũng nhất trí với quan điểm của các bên đƣơng sự. Đối với phần đất dôi dƣ về phía mƣơng nƣớc, quá trình sử dụng, hộ gia đình cụ H5 có lấn chiếm hàng lang giao thông thủy lợi, phần diện tích đã đƣợc đơn vị tƣ vấn lồng ghép với giấy chứng nhận xác định phần diện tích 54,9m2 là đất công do UBND xã quản lý. Trƣớc mắt địa phƣơng chƣa sử dụng thì ngƣời đƣợc giao đất hợp pháp liền kề giáp ranh đƣợc tạm thời sử dụng tài sản trên đất, khi địa phƣơng xử lý thì phải nghiêm chỉnh chấp hành.

- Người làm chứng bà Trần Thị L1 trình bày: Trƣớc đây, bà lấy ông H1 nên là con dâu của cụ H5 và cụ M, sau khi lấy ông H1, vợ chồng bà ở với hai cụ. Khi còn sống, cụ H5 và cụ M nói tách khuôn viên đất của hai cụ thành 3 phần theo chiều dọc thửa đất từ mặt đƣờng xóm trở về sau, hai phần cho hai ngƣời con trai gồm vợ chồng ông H4 và vợ chồng bà mỗi ngƣời một thửa đất, trong đó cho vợ chồng Hậu thửa đất giáp bờ cừ còn thửa đất cho vợ chồng bà giáp ao, còn lại phần đất ở giữa là của hai cụ. Thửa đất phía sau trƣớc đây là vƣờn nhƣng không cao đƣợc nhƣ bây giờ mà thấp hơn, cơ bản bằng vƣờn nhà ông T1 bên cạnh, vì ý định của hai cụ nhƣ vậy nên tạm thời đƣợc hiểu là thửa đất của ba nhà, nên vƣờn phía sau, vợ chồng bà, vợ chồng cụ M, vợ chồng ông H4 đều đánh luống lập vồng trồng nhãn, cả vợ chồng bà và vợ chồng ông H4 đều làm cả cho hai cụ và có đi lấy đất mầu ngoài ruộng về vun lên luống trồng nhãn và hút bùn để đổ vào rãnh. Do quá trình chung sống không hợp nhau nên bà và ông H1 ly hôn với nhau năm 2004 thì bà không ở thửa đất đó nữa mà về nhà bố mẹ đẻ ở cùng làng sinh sống cách đó khoảng 500m. Sau này, ông H1 chặt hết nhãn đi, san luống trồng vải ra và sau khi ông H1, bà L lấy nhau và mấy năm trở lại đây khi Công ty may T về lấy bên cạnh bờ cừ đất làm công ty có gạt đất màu trên mặt ruộng ra để đổ cát thì ông H1 có mua ít đất màu đó và nhờ ngƣời lái máy múc công trình gạt sang vƣờn, nhƣng khối lƣợng thì không nhiều, có đổ đất cũng chỉ cao khoảng 30cm từ mặt vƣờn cũ của cụ M và cụ H5 lên và đóng một số cọc tre và kè đất ở phía bờ cừ giáp mƣơng nƣớc. Đối với phần đất giáp ngõ đi vào nhà ông T1 mà hiện nay vợ chồng ông H1, bà L làm nhà mái bằng thì trƣớc đây là ao, đƣợc vợ chồng ông H1, bà L lấp đi để xây nhà mái bằng cách đây khoảng mấy năm. Đối với vƣờn phía trƣớc nhà cấp 4 của cụ H5 và bên cạnh đầu nhà cấp 4 của cụ H5 trƣớc đây đã cao hơn so với mặt vƣờn phía sau, ông H1, bà L nếu có tôn tạo cũng chỉ một ít không đáng kể bằng gạch vỡ. Thời điểm bà và ông H1 ly hôn, không giải quyết về phần tài sản gì chung, trong đó có liên quan đất cát của bố mẹ chồng là cụ M và cụ H5. Vì thực tế thì hai cụ nói cho nhƣng chỉ nói miệng chƣa làm giấy tờ, văn bản tặng cho theo quy định tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, đất đai vẫn đứng tên hai cụ. Khi còn là vợ chồng, bà cũng không biết cụ H5 có văn bản xin chuyển nhƣợng đất, di chúc gì liên quan đến thửa đất của hai cụ. Nay, anh N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là toàn bộ thửa đất của cụ M và cụ H5. Mặc dù trƣớc đây, bà cũng có công sức tôn tạo, vƣợt lập vào vƣờn phía sau đất cụ H5 và cụ M nhƣng đến nay, bà cũng không yêu cầu đề nghị gì liên quan đến trích công sức trả cho bà (tức bà không có bất cứ yêu cầu, đề nghị gì và đề nghị Tòa án không đƣa tôi vào tham gia tố tụng với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án). Trƣờng hợp có đƣa tôi vào tham gia tố tụng tôi cũng từ chối không tham gia vì không có yêu cầu đề nghị gì.

- Người làm chứng ông Nguyễn Quang H trình bày:

Ông là trƣởng Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ từ năm 2000 đến năm 2011 thì nghỉ. Ngày 18/6/2007 khi ông đang ở gần nhà cụ H5 thì cụ có gọi ông vào và đƣa cho ông tờ đơn đề nghị chuyển đất ở cho con và cháu. Ông cầm tờ đơn và có đọc nội dung thấy cụ H5 đề nghị tách đất cho cháu Nam (con ông H4) và ông H1 (tức H-1) mỗi ngƣời 240m2, số đất còn lại sau này chết cho bốn con gái. Sau khi ông đọc xong nội dung, ông có viết xác nhận “Căn cứ vào đơn xin chuyển nhƣợng đất thổ cƣ của ông Nguyễn Văn H5 cho con và cho cháu. Kính chuyển UBND xã N nghiên cứu và giải quyết” và ký xác nhận vào tờ đơn. Ông chỉ xác nhận nội dung nhƣ vậy vào đơn cho cụ H5, sau này ông đƣợc biết cụ H5 không đi làm thủ tục sang tên đất và làm di chúc cho con, cháu tại cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền, còn sự việc cụ thể diễn ra nhƣ thế nào nữa ông không nắm đƣợc.

Tại phiên tòa, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện và bổ sung thêm, xác định toàn bộ di sản thừa kế của cụ H5 và cụ M là tổng diện tích đất tại các thửa số 44 và 45 đã đƣợc đo đạc, lồng ghép với giấy chứng nhận, 01 nhà cấp 4, 01 sân trạt, 01 cây dừa to và đề nghị chia làm 03 phần, riêng với diện tích đất ao, anh N tặng cho ông H1, riêng cây dừa to nằm trên đất của anh N, ai cho thì anh N xin sử dụng, còn lại cũng chia làm ba, anh N thanh toán trả giá trị; các bà D, Hòa, Tình nhất trí với việc khởi kiện của anh N, đề nghị chia toàn bộ di sản của cụ H5, cụ M làm 03 phần bằng nhau, phần diện tích đất ao, các bà tự nguyện cho ông H1, không yêu cầu thanh toán bằng giá trị, riêng với giá trị cây dừa, các bà cho anh N đƣợc sử dụng và không yêu cầu thanh toán giá trị. Cả anh N và các bà D (vừa đại diện theo ủy quyền cho bà H2), Hòa, Tình nhất trí chia đều giá trị công san lấp 20 triệu bằng 03 phần bằng nhau, các bà thanh toán cho vợ chồng ông H1. Đại diện theo ủy quyền của UBND xã N có quan điểm nhất trí với mốc giới đất cạnh phía đông mà vợ chồng ông T1 và đất của vợ chồng cụ H5 theo hiện trạng, đối với phần đất lấn chiếm cạnh phía tây thuộc đất công, UBND xã có quan điểm trƣớc mặt địa phƣơng chƣa sử dụng, ngƣời đƣợc tạm giao đất hợp pháp tạm thời sử dụng tài sản, công trình trên đất, khi địa phƣơng yêu cầu thì buộc phải tháo dỡ tài sản để trả lại đất, Ông H1, bà L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và việc chấp hành pháp luật của các đƣơng sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688 Bộ luật dân sự; Điều 147, 157, 165 BLTTDS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết vụ án nhƣ sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn H5, Phạm Thị M

Về hàng thừa kế gồm: bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), ngƣời thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn H4 là anh Nguyễn Văn N. Xác định di sản thừa kế của cụ H5 và cụ M gồm: 1.308,7m2 đất gồm thửa đất số 44 tờ bản đồ số 43 diện tích 1088,2m2 bao gồm 300m2 đất ở trị giá 480.000.000 đồng và 788,2m2 đất trồng cây lâu năm trị giá 63.056.000 đồng, thửa đất số 45 tờ bản đồ số 03 diện tích 220,5m2 đất ao trị giá 16.537.000 đồng đều mang tên cụ Nguyễn Văn H5, tổng giá trị đất 559.591.000 đồng, 01 cây dừa trị giá 500.000 đồng, tổng giá trị di sản là 560.093.000 đồng.

Trích trả công sức quản lý, duy trì di sản vợ chồng ông H1 127m2=63.360.000 đồng, cho bà H 54,3m2 = 27.144.000 đồng,

Di sản còn lại 1127,4m2 trị giá 469.087.000 đồng và 01 cây dừa trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 469.587.000 đồng. Các đƣơng sự đều đề nghị chia 03 kỷ phần, 1 phần chia cho anh N, 01 phần cho ông H1, 01 phần của các bà Hợp, Dung, Tình, Hiến mỗi kỷ phần đƣợc hƣởng 375,8m2 đất (gồm: 83,3m2 đất ở, 219m2 đất trồng cây lâu năm; 73,5m2 đất ao) trị giá 156.362.000 đồng, 1/3 giá trị cây dừa bằng 167.000 đồng, tổng cộng là 156.529.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của các bà D, Hiến, Hòa, Tình, anh N về việc tặng cho diện tích đất ao mà họ đƣợc hƣởng cho ông H1. Chấp nhận sự tự nguyện của các bà D, Hiến, Hòa, Tình về việc tặng cho giá trị 1/3 cây dừa tƣơng ứng với số tiền 167.000 đồng cho anh N. Chấp nhận sự tự nguyện của bà H về việc tặng cho anh N giá trị ngôi nhà, công sức quản lý di sản. Chấp nhận sự tự nguyện của ông H1 về việc sáp nhập phần ông đƣợc hƣởng thừa kế vào tài sản chung vợ chồng. Anh N, các bà H2, D, H, T phải trả phần giá trị công vƣợt lập cho vợ chồng ông H1 trên phần đất đƣợc chia. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn N về việc chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Về án phí: bà D, bà H2, bà H3 đƣợc miễn án phí dân sự, anh N, ông H1, bà T phải chịu án phí dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1) là bị đơn và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Mộng L đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do; ông Nguyễn Thanh T1, bà Đỗ Thị N1 đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227; khoản 1, 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt ông H1, bà L, ông T1, bà N1.

Đây là vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản và đối tƣợng tranh chấp là bất động sản toạ lạc tại Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ nơi có bất động sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Về xác định diện tích đất và di sản thừa kế: Căn cứ hồ sơ 299 gồm sổ mục kê, bản đồ địa chính do UBND xã N cung cấp, xác định cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M có thửa đất 44, diện tích 1.049m2 tờ bản đồ số 10, còn đối với thửa đất số 45, diện tích 219m2 ao ghi tên hợp tác xã (ghi chú hiện trạng ruộng đất tên cụ Nguyễn Văn H5) tại Thôn Q, xã N. Năm 1998, khi đo đạc lập hồ sơ địa chính trong đó có phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận, sổ mục kê gồm các thửa số 44, diện tích 1.049m2 loại đất T và thửa số 45, diện tích 219m2 đất ao. Đến ngày 11/01/2000, đƣợc UBND huyện Tứ Kỳ cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên cụ Nguyễn Văn H5 (tức Nguyễn Xuân H5), gồm thửa số 44, diện tích 1.049m2 (trong đó có 300m2 đất ở, 200m2 đất trồng cây lâu năm (50 năm) và 509m2 đất trồng cây lâu năm (lâu dài)) và thửa số 45, diện tích 219m2 đất ao. Năm 1993, địa phƣơng có chia ruộng cho hộ gia đình cụ H5 gồm 05 khẩu, theo quy định, mỗi khẩu ở địa phƣơng đƣợc chia 01 sào 06 thƣớc bằng 504m2 gồm vợ chồng cụ H5, ông H4, ông H1, bà T. Do sử dụng đất vƣờn nhiều nên địa phƣơng có trừ đất ngoài đồng vào đất vƣờn là 10 thƣớc Bắc bộ bằng 240m2, tỷ lệ bị trừ 01 m2 ruộng trừ 01m2 vƣờn. Năm 2003-2006, khi địa phƣơng dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, ông H4 lấy bà H, ông H1 đã tách khẩu ra ở riêng, bà T vẫn chung hộ với cụ H5 nhƣng vẫn đƣợc chia đủ suất ruộng ngoài đồng. Diện tích đất vẫn bị trừ 240m2 nhƣng trừ vào đất của cụ H5 và cụ M. Ông H1, bà H, bà T đều xác định đƣợc nhà nƣớc chia đủ ruộng 03 ngoài đồng, lời khai của các đƣơng sự phù hợp với biên bản xác minh, tài liệu do UBND xã N cung cấp diện tích đất nông nghiệp bị trừ ngoài đồng vào đất vƣờn vẫn là của cụ H5 và cụ M nên HĐXX không phải trích trả cho ông H1, ông H4, bà T mà vẫn thuộc tài sản mà cụ H5 và cụ M để lại.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đã xác định đƣợc tổng diện tích đất của cụ H5, cụ M để lại theo hiện trạng 1.360,3m2. Cạnh phía bắc và phía nam và cạnh phía Đông ở phía cuối thửa đất đã có tƣờng bao do ông H1, bà L xây, cạnh tƣờng bao phía Đông tính từ đƣờng xóm trở về phía đầu nhà ông T1 do gia đình ông T1, bà N1 xây; cạnh phía Tây giáp mƣơng thoát nƣớc không có tƣờng bao phân định ranh giới. Sau khi làm việc với UBND xã N, Tòa án đã đề nghị đơn vị đo đạc lồng ghép giữa sơ đồ hiện trạng và kích thƣớc theo giấy chứng nhận, đã xác định diện tích đất hợp pháp của cụ H5 và cụ M gồm 219m2 đất ao và 1.088,2m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, tổng diện tích 1.307,2m2, diện tích tăng 39,2m2 so với giấy chứng nhận đã cấp năm 2000. Nguyên nhân là sai số do đo đạc, UBND xã đề nghị lấy diện tích trên làm căn cứ xác định diện tích hợp pháp của cụ H5 và cụ M để giải quyết. Quá trình thẩm định, vợ chồng ông T1, bà N1 có ý kiến khi xây tƣờng bao từ đƣờng xóm vào đến đầu nhà ông bà, con gái ông bà không xây hết đất, theo ông bà đoạn từ điểm A12A kéo thẳng đến điểm A10 trên sơ đồ, có diện tích 1,5m2 là phần đất của ông bà thấy rằng. Căn cứ vào hồ sơ địa chính đo đạc năm 1998 cũng nhƣ hiện trạng, xác định thửa đất của vợ chồng ông T1, bà N1 nằm ở phía sau, giáp đƣờng xóm là thửa đất của bố mẹ ông T1, phần giáp ao của cụ H5 là lối đi vào. Do thửa đất phía trên cũng là của bố mẹ ông T1 nên ông đã mở lối đi cơ bản trên phần đất của bố mẹ vào đất của vợ chồng, phần lối đi theo bản đồ ông để làm vƣờn. Do cạnh đất giáp ranh giáp với ao của cụ H5 nên vợ chồng ông đã xây kè ao, xây từ dƣới đáy ao xây lên, đối với đoạn kè ao phía trên từ đƣờng xóm vào đến gần đầu nhà sau này ông xây tƣờng cao lên, đối với đoạn giáp công trình phụ mà vợ chồng ông H1, bà L thì chân tƣờng bao kè ao cũ của vợ chồng ông T1 vẫn còn. Quá trình làm việc với ông T1, bà N1 sau khi thẩm định, ông T1 bà N1 cũng nhất trí với ranh giới theo hiện trạng, có nghĩa là đƣờng ranh giới từ điểm A12A,A12,A11,A10,A9,A8 là ranh giới phân định giữa đất cụ H5 và ngõ đi cũng nhƣ đất của ông bà. UBND xã N có quan điểm ranh giới, mốc giới giữa ngõ đi vào đất của vợ chồng ông T1 và đất ao của cụ H5 đã đƣợc các bên thống nhất xác định, có dấu tích lịch sử để lại và nhất trí với hiện trạng tƣờng bao nhƣ ông T1, bà N1 đã xác định theo sơ đồ. Do đó, xác định phần diện tích 1,5m2 thuộc đất ao của cụ H5. Đối với diện tích giáp mƣơng thoát nƣớc sau khi lồng ghép xác định diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận của cụ H5 54,9m2 là do lấn chiếm, thuộc đất công do UBND xã N quản lý.

Nhƣ vậy, xác định di sản thừa kế của cụ H5 gồm có diện tích đất tại thửa số 44, diện tích 1.088,2m2 và thửa số 45, diện tích 219m2 ao+1,5m2 ao, tổng cộng 220,5m2 ao, tổng diện tích hai thửa 1.308,7m2, trên đất có 01 nhà cấp 4 lợp pro xi măng, 01 sân trạt, 01 cây dừa to là tài sản của cụ H5 và cụ M. Trong đó giá trị 220,5m2 đất ao 16.537.500 đồng; 300m2 đất ở trị giá 480.000.000 đồng, 788,2m2 còn lại là đất trồng cây lâu năm trị giá 63.056.000 đồng, 01 cây dừa to trị giá 500.000 đồng. Đối với nhà cấp 4 cụ H5 và cụ M xây dựng từ năm 1990, Hội đồng định giá xác định hết khấu hao; sân trạt cũng làm cùng thời điểm trên cũng không còn giá trị, nguyên đơn không yêu cầu định giá.

Các đƣơng sự thống nhất các tài sản còn lại gồm: 01 lán tôn, 01 nhà cấp 4 diện tích 32,6m2, công trình phụ 14,7m2, 01 nhà để xe, tƣờng phía trƣớc và cổng là của vợ chồng ông Nguyễn Văn H4, bà Đặng Thị H không đề nghị định giá. Ngoài ra, trên đất còn có 01 Nhà mái bằng bê tông cốt thép diện tích 74,6m2 + công trình phụ khép kín, diện tích 16,8m2; 01 móng nhà 63,3m2; trụ cổng xây gạch chỉ (hai trụ) và 02 cánh cổng; tƣờng bao phía trƣớc (giáp đƣờng xóm) xây gạch chỉ 110, dài 22,8m, cao 1,9m; tƣờng xây phía cuối thửa đất 110, dài 17,5m, cao 01m và đoạn tƣờng bao phía giáp nhà ông T1 27,59m, cao 01m đều xây gạch ba banh và một số cây trên đất gồm: 13 cây mít; 18 cây cau nhỏ; 09 cây dừa nhỏ mới trồng; 01 cây chay; 01 cây khế; 02 cây đào đã nở hoa; 02 cây đu đủ là của vợ chồng ông H1, bà L xây dựng và trồng. Khi còn sống, hai cụ không phân định đâu là phần đất của cụ ông, đâu là đất cụ bà, theo nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và ngƣời đại diện xác định cụ H5 và cụ M chết không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ về tài sản và đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật, theo ông H1, bà L xác định, khi còn sống, cụ Nguyễn Xuân H5 có để lại di chúc lập ngày 15/6/2007 và đề nghị chia theo di chúc của cụ H5.

Xem xét đơn chuyển đất ở cho con và cháu do ông H1 xuất trình và cho rằng đây là di chúc của cụ H5 và ý kiến của các đƣơng sự, thấy rằng: Tại đơn ghi ngày 15/6/2007 có tiêu đề “Đơn chuyển đất cho con và cháu” với nội dung “vợ chồng cụ có diện tích đất 1.049m2, hiện tại vợ chồng cụ đã già yếu nên đề nghị với UBND xã tách cho cháu Nguyễn Văn N diện tích 240m2, tách cho con Nguyễn Văn Hĩu (tức H-1) 240m2, số diện tích còn lại hai vợ chồng cụ đang ở và sử dụng, khi nào hai vợ chồng cụ mất đi thì lúc đó sẽ nhượng cho các con gái Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T”, có chữ ký của cụ H5 và có xác nhận của ông Đỗ Quang Hoa trƣởng Thôn Q, xã N. HĐXX xét thấy, đối với đơn của cụ H5 có hai nội dung, trong tổng số đất 1.049m2 của hai cụ, một là tách chuyển cho anh N và ông H1 mỗi ngƣời 240m2 và hai là sau này hai cụ chết đi, phần còn lại sẽ “nhƣợng” lại cho bốn con gái là bà H2, bà D, bà H3, bà T. Đơn của cụ H5 mới chỉ dừng lại ở dạng đơn đề nghị, có xác nhận của ông H- Trƣởng thôn Quý cao, sau đó cụ lại cầm giữ đơn mà không làm thủ tục tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, UBND xã N cũng xác định không nhận đƣợc đơn đề nghị của cụ H5 và không làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất theo đơn của cụ H5. Về nội dung: diện tích đất 1.049m2 là tài sản chung của vợ chồng cụ, đơn chỉ do một mình cụ H5 ký, không có chữ ký của cụ M, nội dung cũng chỉ nghi chung chung, không chỉ rõ vị trí đất ở chỗ nào. Đối với nội dung phần diện tích còn lại khi nào hai cụ chết đi thì “nhƣợng” cho các bà H2, bà D, bà H3, bà T. Theo từ điển pháp lý từ “nhƣợng” nghĩa là bán lại chứ không phải cho. Từ những phân tích trên xác định đơn chuyển đất ở cho con và cháu ngày 15/6/2007 của cụ Nguyễn Văn H5 không có giá trị pháp lý và đây cũng không phải di chúc của cụ H5 nhƣ quan điểm của ông H1, bà L. Trong nội dung đơn đề nghị trên, cụ H5 cũng không có nội dung nào xác định phần đất còn lại cho riêng ông H1 hoặc để phần đất có nhà cấp 4 của hai cụ làm nhà thờ nhƣ quan điểm của ông H1 đã trình bày.

Đối với ý kiến, quan điểm của ông H1, bà L xác định khi cụ H5 và cụ M còn sống có cho vợ chồng ông diện tích đất ao, việc cho chỉ bằng miệng chứ không có văn bản giấy tờ gì thấy rằng: Đây chỉ là lời trình bày của vợ chồng ông H1, bà L, ngoài ra ông bà không xuất trình đƣợc các tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh việc cụ H5, cụ M cho vợ chồng ông diện tích đất ao, không làm thủ tục tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, các đồng thừa kế không thừa nhận và đều xác định là di sản của hai cụ. Hiện nay, thửa đất số 45 vẫn đứng tên cụ Nguyễn Văn H5 trên giấy chứng nhận nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của vợ chồng ông H1, bà L.

Từ những phân tích nêu trên, xác định di sản của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M đến thời điểm hiện nay gồm thửa đất số 44, diện tích 1.088,2m2 và thửa số 45, diện tích 219m2 ao+1,5m2 ao, tổng cộng 220,5m2 ao, tổng diện tích hai thửa 1.308,7m2, trên đất có 01 nhà cấp 4 lợp pro xi măng, 01 sân trạt, 01 cây dừa to, tổng trị giá các tài sản đã đƣợc định giá và định giá đƣợc là 560.093.500 đồng.

Về hàng thừa kế của cụ H5 và cụ M: Căn cứ lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa của các đƣơng sự, có đủ cơ sở để xác định: cụ Nguyễn Xuân H5 và cụ Phạm Thị M sinh đƣợc 08 ngƣời con, đã chết 02 ngƣời từ lúc còn nhỏ (chƣa có trồng con), còn lại 06 ngƣời con gồm bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H4, ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), ngoài ra hai cụ không có con riêng hay con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ H5 là cụ Nguyễn Văn L chết năm 1990 và cụ Nguyễn Thị N chết năm 1995, bố mẹ cụ M là cụ Phạm Văn T chết năm 1980 và cụ Đặng Thị N chết năm 1986 và đều chết trƣớc cụ H5 và cụ M. Trong số những ngƣời con của hai cụ, có ông Nguyễn Văn H4 chết ngày 04/8/2001. Ông H4 có vợ là bà Đặng Thị H và chỉ sinh đƣợc ngƣời con duy nhất là anh Nguyễn Văn N. Trƣớc khi chết ông H4 cũng không để lại di chúc gì liên quan đến di sản thừa kế của bố mẹ mà nếu còn sống ông sẽ đƣợc hƣởng. Căn cứ 652 BLDS thì anh Nguyễn Văn N là ngƣời đƣợc thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn H4 đối với phần di sản của cụ H5 và cụ M. Cụ Phạm Thị M chết ngày 01/01/2014, trƣớc khi chết không để lại di chúc nên hàng thừa kế của cụ M gồm cụ Nguyễn Xuân H5, bà H2, bà D, bà H3, bà T, anh N (thừa kế thế vị của ông H4) và ông H1 (tức H-1). Cụ Nguyễn Xuân H5 chết ngày 21/6/2014 không để lại di chúc, nên hàng thừa kế của cụ H5 chỉ còn lại 06 ngƣời gồm bà H2, bà D, bà H3, bà T, anh N (thừa kế thế vị của ông H4) và ông H1 (tức H-1). Nhƣ vậy, theo quy định tại Điều 611, Điều 613, Điều 614, khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự thì những ngƣời thừa kế theo pháp luâ ̣t của cụ H5 và cụ M đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn N (thừa kế thế vị của ông H4) và ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1) và hàng thừa kế sau khi hai cụ chết là không thay đổi, vì vậy HĐXX sẽ không bóc tách thời điểm mở thừa kế khi cụ H5 và cụ M chết mà chia thừa kế toàn bộ di sản còn lại theo pháp luật cho các hàng thừa kế;

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời khai, trình bày của các đƣơng sự thấy rằng: Từ khi ông H4 lấy bà H, ông H1 lấy bà L (vợ cũ) và sau này lấy bà L, vợ chồng ông H4 và ông H1 đều sống trên cùng thửa đất với cụ H5, cụ M, cùng nhau quản lý, sử dụng đất. Sau khi cụ H5 và cụ M chết, bà H, vợ chồng ông H1, bà L vẫn tiếp tục quản lý. Vợ chồng ông H1 đã xây tƣờng bao và quản lý khoảng 2/3 thửa đất, còn bà H, anh N vẫn quản lý đất nằm trong khuôn viên nhà công trình của gia đình. Vì vậy, xác định vợ chồng bà H (sau này là anh N) và vợ chồng ông H1 đều có công sức quản lý di sản. Nay, anh N khởi kiện thì ông H1 không đồng ý. Việc không đồng ý lớn hơn việc tính công sức, do đó để đảm bảo quyền lợi của ngƣời có công quản lý, cần áng trích công sức cho vợ chồng bà H, anh N và vợ chồng ông H1 tƣơng ứng gần bằng một suất thừa kế bằng hiện vật là 181,3m2 (trong đó có 50m2 đất ở và 131,3m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 90.504.000 đồng; do vợ chồng ông H1 có công quản lý phần lớn nên chia cho vợ chồng ông H1, bà L công sức nhiều hơn tƣơng ứng với 70% giá trị là 35m2 đất ở, 92m2 đất trồng cây, tổng cộng 127m2; chia cho vợ chồng bà H và anh N 30% giá trị là 15m2 đất ở và 39,3m2 đất trồng cây, tổng cộng 54,3m2. Nhƣ vậy di sản của cụ H5 và cụ M 1.308,7m2– 181,3m2, còn lại là 1.127,4m2, trong đó có 250m2 đất ở và 656,9m2 đất trồng cây, 220,5m2 đất ao, 01 cây dừa to, tổng giá trị là 469.582.500 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự, di sản phải đƣợc chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất mỗi ngƣời đƣợc một phần đều nhau là 187.9m2 đất và giá trị cây cây dừa to. Tuy nhiên anh N (do bà H đại diện) và các bà H2, D, H, T đều thống nhất chỉ đề nghị chia làm 03 phần bằng nhau cho anh N, ông H1 mỗi ngƣời một phần, còn lại các bà H2, D, H, T một phần. Xét thấy, việc các đƣơng sự đều đề nghị chia phần di sản của cụ H5, cụ M làm 3 phần bằng nhau là hoàn toàn tự nguyện, cần đƣợc chấp nhận. Chấp nhận sự tự nguyện của các bà H2, D, H, T không yêu cầu anh N và ông H1 phải thanh toán trả giá trị. Nhƣ vậy, anh Nguyễn Văn N; các bà (gồm Hiến, D, H, T) và ông Nguyễn Văn H1 đều đƣợc chia 375,83m2 đất (làm tròn), (trong đó có 83,33m2 đất ở và 219m2 đất trồng cây lâu năm, 73,5m2 đất ao nuôi trồng thủy sản và 01 cây dừa to, đều có trị giá 156.527.500 đồng).

Quá trình tiến hành tố tụng, anh N, các bà H2, D, H, T đều thống nhất xác định đối với thửa đất ao diện tích 220,5m2 đã đƣợc vợ chồng ông H1, bà L san lấp, làm nhà mái bằng kiên cố. Tại phiên tòa, anh N và các bà H2, Dung Hòa, Tình đều đề nghị chia toàn bộ di sản của cụ H5, cụ M thành ba phần. Riêng phần diện tích đất ao, kỷ phần của anh N và các bà tặng chọ vợ chồng ông H1, bà L, không yêu cầu ông H1, bà L phải trả bằng giá trị. Xét thấy, việc anh N và các bà H2, D, H, T tặng cho vợ chồng ông H1, bà L kỷ phần diện tích 147m2 đất ao là hoàn toàn tự nguyện, cần đƣợc chấp nhận.

Về giá trị san lấp, tôn tạo, đầu tƣ: Quá trình giải quyết vụ án, có lời khai ông H1 trình bày tiền vƣợt lập đất năm 2011 hết tổng số tiền 93 triệu đồng, sau này ông H1 khai hết 119 triệu đồng. Theo bà L trình bày tại buổi thẩm định phần vƣợt lập ở phía sau nhà bằng đất, cát hỗn hợp có độ sâu 01m, phần sân phía trƣớc nhà cụ H5 có độ sâu 30cm và nát nền nhà cấp 4 cụ H5. Tuy nhiên tại buổi xem xét thẩm định, ông H1 có hành vi cản trở, không cho Hội đồng vào trong thửa đất để làm việc, đo đạc nên không xác định đƣợc chính xác vị trí, kích thƣớc san lấp từ đâu đến đâu, nền nhà cũ cụ H5 lát gạch loại gì, kích thƣớc nhƣ thế nào. Tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xác định việc ông H1 và các con nát nền gạch men cho cụ H5, cụ M sử dụng. Do ngôi nhà xuống cấp, Hội đồng định giá xác định toàn bộ ngôi nhà không còn giá trị. Theo các nhân chứng nhƣ ông T1 (hàng xóm), bà L (vợ cũ của ông H1) và bà H đều xác định thửa đất của cụ H5, cụ M ở phía trƣớc nhà cấp 4 đã cao nhƣ hiện nay, đối với vƣờn phía sau nhà cụ H5, ông H4, bà H trƣớc đây hai cụ còn sống, vợ chồng ông H4, vợ chồng ông H1 đã lập vồng thành các luống để trồng vải, hút bùn vào vun gốc cây. Sau đó ông H1 chặt hết vƣờn vải đi, gạt đất ra, mặt vƣờn cơ bản bằng vƣờn ông T1, bà N1. Khi Công ty may T làm mặt bằng trụ sở bên cạnh đó, có gạt đất màu ra nên ông H1 thuê máy múc gạt sang vƣờn, độ sâu tối đa cũng chỉ 30cm. Theo bà H, các bà D, Hòa, Tình thì vợ chồng ông H1, bà L chỉ san lấp, thuê đổ đất, kè bằng phên tre lứa giáp bờ cừ tối đa 20.000.000 đồng. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông H1, bà L đến làm việc, tham gia hòa giải và ra Thông báo yêu cầu ông H1, bà L cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh giá trị san lấp nhƣ đã trình bày nhƣng ông H1, bà L không đến Tòa án làm việc, không cung cấp đƣợc tài liệu chứng cứ chứng minh. Đối với việc san lấp vào diện tích ao của cụ H5 thì hiện nay anh N và các bà H2, D, H, T đã cho kỷ phần đƣợc chia diện tích đất ao vợ chồng ông H1, bà L sử dụng. Vì vậy, chỉ có căn cứ xác định vợ chồng ông H1, bà L san lấp vƣờn trị giá 20.000.000 đồng. Buộc anh N và các bà H2, D, H, T phải có trách nhiệm thanh toán trả cho giá trị san lấp cho ông H1, bà L. Tại phiên tòa, nguyên đơn và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đề nghị đƣợc chia bằng hiện vật bằng đất làm 03 phần (trừ diện tích đất ao), vì vậy công sức san lấp cũng chia đều, dù có đƣợc chia ít đất hơn thì số tiền 20 triệu cũng chia đều 03 phần, anh N một phần, các bà H2, D, H, T một phần trả tiền san lấp cho vợ chồng ông H1.

Xét hoàn cảnh và nhu cầu sử dụng đất ở của các đƣơng sự, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ H5 và cụ M, HĐXX nhận thấy: Trƣớc đây khi anh N khởi kiện lần 1, tại biên bản làm việc ngày 11/4/2023 nguyên đơn và các đƣơng sự thống nhất sẽ trích ra diện tích đất có chiều rộng 02m ở phía giáp bờ cừ (mƣơng nƣớc), chiều dài theo kích thƣớc thửa đất làm lối đi và chia thừa đất 06 phần, anh N đƣợc 02 thửa, bà H2, D, H, T đƣợc 02 thửa, ông H1, bà L đƣợc hai thửa (trừ thửa đất ao). Trƣờng hợp chia đƣợc nhƣ thỏa thuận trên thì các đƣơng sự sẽ khai thác đƣợc triệt để giá trị thửa đất. Tuy nhiên thời điểm đó, thửa đất chƣa đƣợc thẩm định để xác định diện tích đất hợp pháp của cụ M và cụ H5. Sau khi Tòa án thụ lý lần 2 và đã đo đạc xác định đƣợc khuôn viên xung quanh thửa đất, trƣờng hợp nếu chia theo phƣơng án mà các đƣơng sự thỏa thuận nêu trên thì anh N và bà H phải tháo dỡ nhà và công trình mới mở đƣợc lối đi vào. Do công trình xây dựng kiên cố nếu tháo dỡ một phần thì không sử dụng đƣợc nữa. Hiện anh N, bà H không cõ chỗ ở nào khác và không nhất trí chia nhƣ vậy nữa, vợ chồng ông H1 đang ở phần đất có nhà mái bằng 01 tầng, công trình phụ và một phần móng nhà trên phần lớn diện tích đất ao, bà H, anh N đang sử dụng nhà cấp 4 của vợ chồng ông H4, bà H. Đối với ngôi nhà cấp 4 cũ của vợ chồng cụ H5 ở giáp nhà của bà H, ông H4, ngồi nhà xây dựng đã lâu, hiện không ai ở. Để đảm bảo quyền sử dụng đất không bị chia tách, tiện cho việc sinh hoạt, sử dụng. Vì vậy HĐXX giao kỷ phần đất anh N đƣợc chia và phần đất trích trả công sức của vợ chồng bà H, anh N ở vị trí có nhà cấp 4 công trình phụ của vợ chồng bà H, tiếp đến là chia kỷ phần bằng đất cho 4 bà H2, D, H, T ở vị trí có nhà cấp 4 của cụ H5 và cụ M, tiếp đó chia kỷ phần của ông H1 và phần diện tích đất trích trả công quản lý cho vợ chồng ông H1, bà L giáp với phần đất ao có nhà và công trình của vợ chồng ông H1. Do ngôi nhà cấp 4 của cụ H5, cụ M không còn giá trị nên trƣờng hợp ranh giới đất có vào nhà cấp 4 của cụ H5, các bà H2, D, H, T phải có trách nhiệm tháo dỡ trả lại mặt bằng cho ngƣời đƣợc giao đất. Đối với phần đất giao cho các bà H2, D, H, T có vào một phần lán tôn, có tƣờng bao hình tham giác, kích thƣớc 13cm x 66cm, rộng 18cm, buộc anh N phải tháo dỡ để trả đất khi các bà H2, D, H, T có yêu cầu.

Chấp nhận sự tự nguyện của các bà H2, D, H, T cùng đứng tên sử dụng diện tích đất mà không bóc tách. Chấp nhận yêu cầu của ông H1, bà L về việc nhập kỷ phần đƣợc chia thừa kế bằng đất cho ông H1, kỷ phần trích trả công sức bằng đất và phần đất ao, giá trị san lấp nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Chấp nhận sự tự nguyện của bà H về việc tặng cho anh N toàn bộ công trình trên đất của vợ chồng, tặng cho anh N giá trị công sức quản lý đƣợc trích trả, không yêu cầu anh N phải thanh toán trả giá trị bằng tiền.

Đối với phần đất mà anh N, các bà H2, D, H, T đƣợc giao có các đoạn tƣờng bao do vợ chồng ông H1, bà L xây thì phải trả giá trị tƣờng bao đã đƣợc định giá. Đối với các cây trồng trên đất đƣợc giao cho anh N, các bà H2, D, H, T là của vợ chồng ông H1. Do không xác định đƣợc chính xác vị trí các cây, anh N và các bà H2, D, H, T không có nhu cầu sử dụng nên buộc vợ chồng ông H1, bà L phải đánh chuyển đi nơi khác. Đối với 01 cây dừa to là di sản của cụ H5, cụ M để lại nằm trên phần đất của anh N nên giao cho anh N đƣợc quyền sử dụng, chấp nhận sự tự nguyện của các Hiến, D, H, T cho giá trị kỷ phần cây dừa to đƣợc chia cho anh N. Anh N phải trả kỷ phần giá trị cây dừa to cho ông H1. Đối với nhà ở mái bằng, móng nhà mái bằng, cổng (hai trụ cổng, 02 cánh cổng), sân bê tông, các đoạn tƣờng bao, giá trị san lấp vƣờn mà vợ chồng ông H1 xây dựng vẫn nằm trên phần đất giao cho ông H1, bà L nên ông bà tiếp tục sử dụng.

Đối với phần diện tích đất 54,9m2 giáp bờ cừ (giáp mƣơng nƣớc), sau khi lồng ghép với giấy chứng nhận, xác định đây là phần đất lấn chiếm thuộc đất công do UBND xã N quản lý. Trên phần đất này có một phần nhà để xe do anh N bà H đang sử dụng. Trƣớc mắt UBND xã N chƣa sử dụng đến phần đất này, tạm thời anh N đƣợc sử dụng công trình, tài sản có trên đất. Khi địa phƣơng yêu cầu tháo dỡ trả lại đất lấn chiếm thì anh N phải nghiêm chỉnh chấp hành, trừ trƣờng hợp địa phƣơng có hƣớng xử lý khác.

Về lối đi vào thửa đất: Do thửa đất đƣợc giao cho anh N, các bà H2, D, H, T và vợ chồng ông H1, bà L đều có tiếp giáp đƣờng xóm, nên các đƣơng sự đƣợc quyền mở lối đi phù hợp để vào phần đất đƣợc giao.

Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Trong quá trình giải quyết vụ án anh N đã nộp tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản. Anh N tự nguyện chịu cả số tiền này, không đề nghị bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải thanh toán nên HĐXX không phải giải quyết.

Về án phí: Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế, các đƣơng sự phải chịu án phí trên kỷ phần phần giá trị tài sản đƣợc hƣởng. Bà H2, bà D, bà H3 là ngƣời cao tuổi và đề nghị đƣợc miễn án phí dân sự sơ thẩm nên HĐXX miễn án phí những ngƣời trên là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về… án phí, lệ phí Tòa án. Các đƣơng sự khác phải nộp tiền án phí trên giá trị kỷ phần đƣợc chia và đƣợc các đƣơng sự khác cho (trừ trƣờng hợp ngƣời cho đƣợc miễn nộp tiền án phí).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS; các điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 688, 357, 468 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Xử:

1. Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5 và cụ Phạm Thị M là quyền sử dụng đất 1.308,7m2, trong đó có 300m2 đất ở, 788,2m2 đất trồng cây lâu năm và 220,5m2 đất ao nuôi trồng thủy sản tại các thửa số 44, 45 tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng và 01 ngôi nhà cấp 4, sân trạt, 01 cây dừa to, tổng trị giá 560.093.500 đồng. Trích trả công sức cho bà Đặng Thị H, anh Nguyễn Văn N 54,3m2 đất (trong đó có 15m2 đất ở, 39,3m2 đất trồng cây lâu năm), trị giá 27.144.000 đồng; vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1) và bà Hồ Mộng L 127m2 đất (trong đó có 35m2 đất ở, 92m2 đất trồng cây lâu năm), trị giá 63.360.000 đồng; Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M còn lại là 1.127,4m2 đất, trong đó có 250m2 đất ở, 656,9m2 đất trồng cây lâu năm, 220,5m2 đất ao nuôi trồng thủy sản, 01 ngôi nhà cấp 4, 01 sân trạt, 01 cây dừa to, tổng trị giá 469.589.500 đồng.

2. Xác nhận 01 lán tôn, cổng, nhà cấp 4 lợp tôn diện tích 32,6m2, 01 công trình phụ 14,7m2, 01 nhà để xe, diện tích 11,1m2, tƣờng bao phía trƣớc nhà, cổng là của vợ chồng ông Nguyễn Văn H4 và bà Đặng Thị H;

3. Xác nhận 01 nhà mái bằng 74,6m2, công trình phụ 16,8m2, phần móng nhà 63,3m2, cổng (hai trụ cổng, 02 cánh cổng), sân bê tông trƣớc nhà mái bằng và trƣớc móng nhà, đoạn tƣờng bao phía trƣớc giáp đƣờng xóm xây gạch chỉ dài 22,8m, cao 1,9m; đoạn tƣờng bao phía sau giáp ruộng bà T xây gạch ba banh dài 17,5m, cao 1,1m, đoạn tƣờng bao xây gạch ba banh giáp nhà ông T1 dài 27,59m, cao 1,1m và các cây trên đất gồm 13 cây mít; 18 cây cau nhỏ; 09 cây dừa nhỏ mới trồng; 01 cây chay; 01 cây khế; 02 cây đào đã nở hoa; 02 cây đu đủ là của vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1, bà Hồ Mộng L.

4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M theo pháp luật.

4.1. Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Xuân H5 (tức Nguyễn Văn H5) và cụ Phạm Thị M còn lại trị giá 469.589.500 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh N và các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T về việc chia di sản thừa kế của cụ H5, cụ M thành 03 phần bằng nhau: anh Nguyễn Văn N đƣợc hƣởng 156.530.000 đồng, các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T đƣợc hƣởng 156.530.000 đồng và ông Nguyễn Xuân H1 đƣợc hƣởng 156.530.000 đồng.

4.2. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn N cho ông Nguyễn Xuân H1 kỷ phần diện tích đất ao 73,5m2, trị giá 5.512.500 đồng, các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T cho ông Nguyễn Xuân H1 diện tích đất ao 73,5m2, trị giá 5.512.500 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T về việc cho anh Nguyễn Văn N giá trị phần cây dừa to 167.000 đồng. Nên anh Nguyễn Văn N đƣợc hƣởng 156.530.000 đồng- 5.512.500 đồng (tƣơng ứng 73,5m2 đất ao đã cho ông H1) + 167.000 đồng giá trị phần cây dừa to do các bà H2, D, H, T cho là 151.184.500 đồng. Các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T còn đƣợc hƣởng 156.530.000 đồng- 5.512.500 đồng (tƣơng ứng 73,5m2 đất ao đã cho ông H1)- giá trị phần cây dừa to 167.000 đồng cho anh N, còn đƣợc hƣởng 150.850.500 đồng. Ông Nguyễn Văn H1 đƣợc chia 156.530.000 đồng + 11.025.000 đồng (tƣơng ứng 147m2 đất ao do anh N và 4 bà H2, D, H, T cho là 167.555.000 đồng).

4.3. Chia hiện vật và trách nhiệm thanh toán: Giao cho anh Nguyễn Văn N đƣợc quyền sử dụng diện tích đất 356,33m2, trong đó có 98,33m2 đất ở và 258,3m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa số 44 tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có tứ cận nhƣ sau: Phía Bắc giáp ruộng bà T 5,67m; phía Nam giáp đƣờng xóm 7,81m; phía Tây giáp mƣơng nƣớc 52,96m; phía Đông giáp đất của các bà H2, D, H, T 52,87m, đƣợc giới hạn bởi các điểm B8,B1,B3,B4 đến B8, trên đất có 01 cây dừa to. Tổng trị giá 151.351.500 đồng + 27.144.000 đồng, tổng cộng 178.495.500 đồng và đƣợc sử dụng 01 lán tôn, cổng, nhà cấp 4 lợp tôn diện tích 32,6m2, 01 công trình phụ 14,7m2, 01 nhà để xe, diện tích 11,1m2 là của vợ chồng ông Nguyễn Văn H4 và bà Đặng Thị H; 01 đoạn tƣờng bao xây gạch ba banh dài 5,67m, cao 1,1m của vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1, bà Hồ Mộng L.

Giao cho các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T đƣợc quyền sử dụng diện tích đất 302,33m2, trong đó có 83,33m2 đất ở và 219m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa số 44 tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có tứ cận nhƣ sau: Phía Bắc giáp ruộng bà T 5,67m; phía Nam giáp đƣờng xóm 5,69m; phía Tây giáp đất anh N 52,87m; phía Đông giáp đất của ông H1 52,40m, đƣợc giới hạn bởi các điểm B7,B8,B4,B5 đến B7, tổng trị giá 150.850.500 đồng. Trên đất có 01 phần nhà cấp 4 của cụ H5 và cụ M; 01 đoạn tƣờng bao xây gạch ba banh giáp ruộng bà T dài 5,67m, cao 1,1m, phía đƣờng xóm có đoạn tƣờng bao 5,69m của vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1, bà Hồ Mộng L.

Giao cho ông Nguyễn Xuân H1 đƣợc quyền sử dụng diện tích đất 429,33m2, trong đó có 118,33m2 đất ở và 331m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa số 44 tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có tứ cận nhƣ sau: Phía Bắc giáp ruộng bà T 5,67m; phía Nam giáp đƣờng xóm có các đoạn 1,81+5,71+4,31m; phía Tây giáp đất các bà H2, D, H, T 52,40m; phía Đông giáp đất của ông T1 và đất ao của ông H1, bà L có các đoạn 27,59m+24,04m, đƣợc giới hạn bởi các điểm B6,B7,B5,A7 đến B6 và Giao cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1, bà Hồ Mộng L đƣợc sử dụng 220,5m2 đất ao, có các cạnh: phía Tây giáp đất ông H1 24,04m, phía Bắc và phía Đông có các cạnh 3,76+4,73+1,86+1,51+3,85+15,79m, phía Nam giáp đƣờng xóm có cạnh 9,41m, đƣợc giới hạn bởi các điểm A13,B6,A8,A9,A10,A11,A12,A12A đến A13 và các tài sản trên phần đất đƣợc giao. Trong đó diện tích đất ông H1 đƣợc chia 375,83m2 đất, trị giá 156.360.500 đồng, diện tích đất ông H1, bà L đƣợc trích trả 127m2, trị giá 63.360.000 đồng, diện tích anh N và các bà H2, D, H, T cho đất ao 147m2, trị giá 11.025.000 đồng. Tổng cộng 230.745.500 đồng.

Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1) nhập diện tích đất đƣợc chia thừa kế và các tài sản trích trả công sức quản lý di sản vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tổng diện tích đất giao cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), bà Hồ Mộng L đƣợc quyền sử dụng 649,83m2, (trong đó có 118,33m2 đất ở và 331m2 đất trồng cây lâu năm, 220,5m2 đất ao nuôi trồng thủy sản) tại thửa số 44, 45 tờ bản đồ số 03 Thôn Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng và đƣợc sử dụng các tài sản của vợ chồng đầu tƣ, xây dựng trên đất gồm nhà mái bằng, công trình phụ, móng nhà, sân bê tông, cổng, cánh cổng, tƣờng bao giáp đƣờng xóm, tƣờng bao giáp ruộng bà T, tƣờng bao phía cuối giáp đất ông T1, bà N1, đƣợc giới hạn bởi các điểm A13,B6,A14,A15,B7,B5,A7,A8,A9,A10,A11,A12,A12A đến A13.

- Buộc anh Nguyễn Văn N trả giá trị san lấp cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), bà Hồ Mộng L là 6.667.000 đồng và thanh toán trả giá trị cây dừa to 167.000 đồng, 5,67m tƣờng gạch ba banh 901.000 đồng. Tổng cộng 7.735.000 đồng; Buộc các bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T phải trả giá trị san lấp cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), bà Hồ Mộng L 6.667.000 đồng, thanh toán trả giá trị 5,67m đoạn tƣờng gạch ba banh 901.000 đồng và 5,69m tƣờng gạch chỉ 1.565.000 đồng. Tổng cộng 9.133.000 đồng. Chia theo phần, mỗi bà phải trả 2.284.000 đồng.

- Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị H về việc tặng cho toàn bộ giá trị 01 lán tôn, cổng, cánh cổng, nhà cấp 4 lợp tôn diện tích 32,6m2, 01 công trình phụ 14,7m2, 01 nhà để xe, diện tích 11,1m2, tƣờng bao phía trƣớc, cổng và giá trị công sức đƣợc trích trả bằng đất cho anh Nguyễn Văn N và không yêu cầu anh Nguyễn Văn N phải thanh toán giá trị.

Cách xác định ranh giới đất giao cho các đƣơng sự nhƣ sau: Lấy điểm A13 và điểm A7 trên sơ đồ (tức cạnh sát mép tƣờng nhà ông T1 giáp đƣờng xóm và điểm A7 cuối đất trên sơ đồ làm chuẩn) kéo về phía tây, trong đó từ điểm A13 kéo đến điểm B7 là 21,24m, kéo từ điểm A7 đến B5 là 5,67m. Kéo đƣờng thẳng, nối hai điểm B7 đến B5 là ranh giới đất của vợ chồng ông H1, bà L. Tiếp theo là đất của các bà H2, D, H, T, kéo từ điểm B7 đến điểm B8 là 5,69m, từ điểm B5 đến B4 là 5,67m, kéo đƣờng thẳng nối hai điểm B8 đến B4 là đất của 4 bà. Từ điểm B8 giáp đƣờng xóm, kéo đến điểm B1 là 7,81m, từ điểm B4 kéo đến B3 là 5,67m. Kéo đƣờng thẳng nối hai điểm B1 đến B3 là đất của anh Nguyễn Văn N. Trƣờng hợp đƣờng ranh giới đất vào nhà cấp 4 của cụ H5 và cụ M và một phần lán tôn của anh N đã giao cho các bà H2, D, H, T, buộc các bà H2, D, H, T phải tháo dỡ nhà và anh N phải cắt, sén một ít lán tôn, tƣờng bao có kích thƣớc 13cm x 66cm, rộng 18cm ở vị trí gần sát đƣờng xóm để trả lại đất cho ngƣời đƣợc giao sử dụng khi có yêu cầu.

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Xuân H1 (tức H-1), bà Hồ Mộng L phải đánh chuyển, di rời các cây của vợ chồng đã trồng trên phần đất giao cho anh Nguyễn Văn N, các bà H2, D, H, T. Buộc vợ chồng ông H1, bà L phải di chuyển các vật dụng còn để trong nhà cấp 4 của cụ H5 và trên đất đã giao cho các bà H2, D, H, T (nếu có) đi nơi khác.

- Anh Nguyễn Văn N tạm thời đƣợc khai thác cây cối, sử dụng tài sản trên phần đất lấn chiếm 54,9m2 của UBND xã N. Khi nào địa phƣơng yêu cầu thì anh Nguyễn Văn N phải tháo dỡ công trình để trả lại đất cho UBND xã N (trừ trƣờng hợp UBND xã N có hƣớng xử lý khác).

Các đƣơng sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đƣợc hƣớng dẫn và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và có quyền tự mở lối đi phù hợp vào thửa đất đƣợc giao. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

5. Về tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn N chịu toàn bộ tiền tiền chi phí thẩm định, định giá 4.500.000 đồng (số tiền này anh N đã nộp đủ và chi phí xong).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6. Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 7.553.000 đồng (làm tròn), ông Nguyễn Xuân H1 phải chịu 8.171.000 đồng (làm tròn), bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.886.000 đồng án phí dân sự.

Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm dân sự đối với kỷ phần của bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị H3 đƣợc chia.

7. Về quyền kháng cáo: Đƣơng sự có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Tứ Kỳ;

Cỡ chữ