vanban.org

Bản án 03/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/01/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Trần Xuân C1 và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai T số tiền còn nợ từ hợp đồng vay là 38.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Về án phí: Buộc bị đơn anh Trần Xuân C1 và chị Nguyễn Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chap HD vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Trần Xuân C1 và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai T số tiền còn nợ từ hợp đồng vay là 38.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày 12/01/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hồng Minh;

2. Bà Võ Thị Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 92/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-DS ngày 15/11/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Mai T, sinh năm 1982; nơi cư trú: C T, Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Minh C và chị Nguyễn Thị Thu T1; nơi cư trú: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai T trình bày: Do hàng xóm quen biết với nhau nên vào ngày 10/4/2020 âm lịch tôi có cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Thu T1, anh Trần Xuân C1 vay 38.000.000đ, thời hạn vay 01 tháng, vay không có lãi. Sau đó nhiều lần tôi đến gặp chị T1, anh C1 để đòi nợ nhưng họ cứ hẹn mà không chịu trả, chị T1 còn đe đọa đánh tôi, đuổi tôi ra khỏi nhà. Do vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh C1, chị T1 phải trả cho tôi số tiền còn nợ là 38.000.000đ.

2. Lời khai có tại hồ sơ của bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T1 thể hiện: Vợ chồng chị T1, anh C1 có vay và còn nợ của chị Huỳnh Thị Mai T 38.000.000đ, hiện nay hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải nuôi bốn con ăn học, nên xin được trả dần mỗi tháng 300.000đ cho đến khi hết số tiền còn nợ.

3. Bị đơn anh Trần Minh C đã được Tòa án gửi thông báo thụ lý, triệu tập đến làm việc, hòa giải, xét xử nhưng đều vắng mặt nên không trình bày được ý kiến của mình về nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai T yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn anh Trần Minh C và chị Nguyễn Thị Thu T1; nơi cư trú: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai phải trả tiền còn nợ từ hợp đồng vay. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn anh Trần Minh C và chị Nguyễn Thị Thu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh C, chị T1.

Bị đơn chị T1 thừa nhận vợ chồng anh C, chị T1 có vay và còn nợ nguyên đơn chị Mai T 38.000.000đ, cũng phù hợp với giấy viết tay ghi ngày 10/4/2020 âm lịch do bị đơn xác nhận. Theo “Giấy mượn tiền” các bên không có thỏa thuận về thời hạn trả và không thỏa thuận về lãi suất vay, do vậy xác định thỏa thuận của các bên là hợp đồng vay không có thời hạn và không có lãi. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự. Do vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 38.000.000đ.

Về thời hạn và phương thức trả: Bị đơn yêu cầu kéo dài thời gian trả nợ. Yêu cầu của bị đơn không được nguyên đơn chấp nhận do vậy cần buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn một lần số tiền còn nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận là 38.000.000đ x 5% = 1.900.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Trần Xuân C1 và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai T số tiền còn nợ từ hợp đồng vay là 38.000.000đ (ba mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Buộc bị đơn anh Trần Xuân C1 và chị Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.900.000đ (một triệu, chín trăm nghìn đồng).

Chị Huỳnh Thị Mai T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị Huỳnh Thị Mai T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 950.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006810 ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 12/01/2024. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ