vanban.org

Bản án 03/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Lý Lệ H.

Buộc bà Lý Lệ H có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền vay gốc là 33.290.706 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký, tạm tính đến ngày 27-3-2024, tiền lãi trong hạn là 8.130.163 đồng, tiền lãi quá hạn là 923.636 đồng, phí quản lý khoản vay là 120.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.4…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T tín dụng Lý Lệ H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Lý Lệ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày 27-3-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Kỳ Trung

Ông Nguyễn Xuân Tươi

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thế Sự - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 (JIVF)); địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI NOBORU - Tổng Giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: bà Trần Việt N - Phó Bộ phận Quản lý Công nợ. Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Thanh T - Nhân viên JIVF, sinh năm 1992; địa chỉ: số A, ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (theo Giấy uỷ quyền số 755/2023, ngày 20-11-2023), (có mặt).

- Bị đơn: bà Lý Lệ H, sinh năm: 1963; địa chỉ: 3, khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 26-10-2023, qua làm việc cũng như tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:

Vào ngày 16-01-2023, bà Lý Lệ H có ký hợp đồng với Công ty T1 (JIVF) để vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, từ ngày 13-02-2023 đến 13-01-2025, lãi suất 30,84%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn, mục đích vay mua sản phẩm thiết bị dự trử, hình thức trả góp hàng tháng tiền gốc và tiền lãi, vay tín chấp. Sau khi vay bà H có trả nợ đúng hạn đến 12-7-2023 thanh toán được gốc và lãi là 11.329.453 đồng, từ ngày 13-7-2023 bà H ngưng không thanh toán nợ theo hợp đồng vay đã ký. Công ty có gửi thông báo nhắc nợ, nhưng bà H không trả, nên Công ty khởi kiện.

Nay ông yêu cầu bà Lý Lệ H phải trả cho Công ty T1 JACCS số tiền vay gốc là 33.290.706 đồng, tiền lãi trong hạn tính đến nay 27-3-2024 là 8.130.163 đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày 27-3-2024 là 923.636 đồng, phí quản lý khoản vay là 120.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.464.505 đồng. Ngoài ra ông yêu cầu bà H phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, các phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì khác.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 12-01-2024 bị đơn bà Lý Lệ H trình bày: bà xác nhận có vay tiền của Công ty T1 JACCS số tiền vay gốc là 40.000.000 đồng theo thông tin như đại diện nguyên đơn trình bày là đúng. Nay bà đồng ý trả nợ theo yêu cầu của công ty nợ gốc là 33.290.706 đồng và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng vay, phí quản lý khoản vay. Ngoài ra bà đồng ý tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, các phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên, nhưng cho bà xin trả góp hàng tháng, do hoàn cảnh gia đình bà quá khó khăn. Ngoài ra không ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 Jaccs “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Lý Lệ H. Buộc bà Lý Lệ H có nghĩa vụ phải trả cho Công ty T1 Jaccs số tiền nợ gốc là 33.290.706 đồng và lãi suất, các khoản phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ. Bà Lý Lệ H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: bà Lý Lệ H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Công ty T1 tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà H, Toà án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: theo nguyên đơn thì vào ngày 16-01-2023, bà Lý Lệ H có ký hợp đồng với Công ty T1 (JIVF) để vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, từ ngày 13-02-2023 đến 13-01-2025, lãi suất 30,84%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn, mục đích vay mua sản phẩm thiết bị dự trử, hình thức trả góp hàng tháng tiền gốc và tiền lãi, vay tín chấp. Sau khi vay bà H có trả nợ đúng hạn đến 12-7-2023 thanh toán được gốc và lãi là 11.329.453 đồng và tiền lãi theo hợp đồng, từ ngày 13-7-2023 bà H ngưng không thanh toán nợ theo hợp đồng vay đã ký.

Nay công ty yêu cầu bà Lý Lệ H phải trả cho Công ty T1 JACCS số tiền vay gốc là 33.290.706 đồng, tiền lãi trong hạn tính đến nay 27-3-2024 là 8.130.163 đồng, tiền lãi quá hạn là 923.636 đồng, phí quản lý khoản vay là 120.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.464.505 đồng. Ngoài ra yêu cầu bà H phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn, các phí theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Bà H thừa nhận có ký hợp đồng vay của Công ty T1 về thông tin như đại diện Ngân hàng trình bày, bà xác nhận có nợ và đồng ý trả nợ theo yêu cầu của Công ty T1 số tiền vay gốc là 33.290.706 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký, nhưng bà xin trả dần hàng tháng.

Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn đã được bị đơn thừa nhận còn nợ và đồng ý có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tiền gốc là 33.290.706 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký, tạm tính đến ngày 27-3-2024, tiền lãi trong hạn là 8.130.163 đồng, tiền lãi quá hạn là 923.636 đồng, phí quản lý khoản vay là 120.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.464.505 đồng là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật Dân sự và các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.

Việc bị đơn xin trả dần số nợ trên là ở giai đoạn thi hành án, không thuộc thẩm quyền xem xét của Toà án.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (JIVF) “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Lý Lệ H.

Buộc bà Lý Lệ H có nghĩa vụ trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền vay gốc là 33.290.706 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đã ký, tạm tính đến ngày 27-3-2024, tiền lãi trong hạn là 8.130.163 đồng, tiền lãi quá hạn là 923.636 đồng, phí quản lý khoản vay là 120.000 đồng. Cộng gốc lãi phí là 42.464.505 đồng (Bốn mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm lẻ năm) đồng. Ngoài ra bà H còn phải tiếp tục trả lãi, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ trên.

2. Án phí: bà Lý Lệ H chịu 2.123.000 (Hai triệu một trăm hai mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T1 (JIVF) số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp 955.000 (Chín trăm năm mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Toà án số 0015075 ngày 28-11-2023 của Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ