- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N và Nguyễn Hữu T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/3/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thơ, ông Nguyễn Trí Vỵ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N; Sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Minh L, xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T; Sinh năm: 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Mai L, xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hữu T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 07/01/2019. Sau một thời gian ngắn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị N đưa con về Cẩm Xuyên sống với nhà ngoại. Hiện nay, chị N không còn tình cảm với anh T và mong muốn được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Đan T, sinh ngày 07/10/2019, hiện đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên và không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N trình bày vợ chồng không có nợ chung, không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Hữu T đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, chỉ trình bày: “Người bỏ tự làm”, không cung cấp thông tin gì thêm, không đến Tòa án làm việc theo triệu tập.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Lộc thể hiện: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hữu T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 07/01/2019, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đan T. Hiện nay, chị Nguyễn Thị N đã chuyển hộ khẩu thường trú về Thôn Minh L, xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh còn anh Nguyễn Hữu T đăng ký thường trú và sinh sống cùng với bố mẹ đẻ tại Thôn Mai L, xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị Hương (mẹ đẻ chị Nguyễn Thị N) thể hiện:
Sau khi kết hôn, chị N về sống tại gia đình nhà chồng tại xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc. Được một thời gian ngắn thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị N đưa con gái về sống cùng với vợ chồng bà tại xã Yên Hòa, huyện Cẩm Xuyên. Trong thời gian mẹ con N sống với vợ chồng bà thì anh T không đến thăm nom, hỗ trợ nuôi con gì cả, các chi phí nuôi con đều do chị N gửi cho ông bà, ông bà không có ý kiến gì về chi phí nuôi dưỡng cháu.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn hiện đúng, đủ, quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Hữu T; Giao con chung cho chị Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Chị Nguyễn Thị N phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Nguyễn Hữu T đăng ký thường trú tại Thôn Mai L, xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc và được quyền nuôi con chung của vợ chồng. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hữu T:
Việc đăng ký kết hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hữu T là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn, thực hiện đúng thủ tục. Chị Nguyễn Thị N có quyền yêu cầu ly hôn theo Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình.
Kết quả xác minh cho thấy vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Chị Nguyễn Thị N kiên quyết ly hôn còn anh Nguyễn Hữu T cũng bỏ mặc hôn nhân của mình, không có hành động gì thể hiện muốn tiếp tục xây dựng cuộc sống chung. Như vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đan T, sinh ngày 07/10/2019 hiện đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Con chung đang sinh sống ổn định với mẹ; Chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung còn anh T không có ý kiến gì về quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Do đó, giao con chung cho cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung, tài sản chung: Các đương sự không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1,2 Điều 24 điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Đan T, sinh ngày 07/10/2019 cho mẹ (chị Nguyễn Thị N) trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con.
Anh Nguyễn Hữu T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với mẹ và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N chịu trách nhiệm nộp tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 10899 ngày 03/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc. Chị Nguyễn Thị N phải nộp tiếp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Can Lộc; - Chi cục THADS huyện Can Lộc; - UBND xã Xuân Lộc; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |