vanban.org

Bản án 03/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn B 01 năm 10 tháng (một năm mười tháng) tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Bút tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 03/2023/HSST
Ngày 24 tháng 10 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quàng Văn Tiện

Ông Trần Thành Vân

- Thư ký phiên toà:

Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên .

Ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn B - Sinh ngày 25/01/2004, tại Sông Mã, Sơn La; Nơi cư trú: Bản M , xã C , huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ giáo dục phổ thông: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn L và bà Lường Thị L ; Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 15/7/2023 cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi liên quan:

Ông Lò Văn L - Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Bản M , xã C , huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 10 phút ngày 15/7/2023 Tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phòng chống ma tuý tại bản bản Bó Luông, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã phát hiện một nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý, nên đã dừng xe kiểm tra, nam thanh niên khai nhận là Lò Văn B , quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của B có một gói nilon bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng (B khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 602.73.

Ngày 16/7/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: 03 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,27 gam, trích 01 viên có khối lượng 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu B, vật chứng còn lại 0,18 gam ký hiệu L.

Kết luận số 1776/KL-KTHS ngày 18/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,27 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Lò Văn B khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 14/7/2023 B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 602.73 từ nhà đi lên bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã để tìm mua ma túy sử dụng, khi đi có mang theo 50.000đ. Đến nơi B gặp một người đàn ông dân tộc Mông đang đi bộ, B hỏi mua ma tuý với người này và đã đưa cho người này số tiền 50.000đ, sau khi nhận tiền người đàn ông đi vào trong bản, khoảng 15 phút sau thì quay lại đưa cho B một gói nilon màu xanh bên trong có 03 viên Hồng phiến, sau khi nhận gói ma tuý B cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về, trên đường về thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Cáo trạng số 183/CT-VKSSM ngày 06 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông mà Lò Văn Bút khai nhận bán ma túy cho Bút, quá trình điều tra do Bút không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại và các vật chứng liên quan.

- Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tài liệu trong hồ sơ và tại phiên toà người có quyền lợi liên quan Lò Văn L trình bày: Anh là bố đẻ của Lò Văn B , chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 602.73 mà B làm phương tiện thực hiện tội phạm là xe của gia đình anh được mua vào năm 2020, khi B mang xe đi thực hiện tội phạm gia đình không biết. Hiện nay chiếc xe đã được cơ quan Công an trả lại cho gia đình nên anh không có đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 15/7/2023; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 1776/KL-KTHS ngày 18/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/7/2023 Lò Văn B đã có hành vi cất giấu 0,27gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố và Tòa án nhân dân huyện xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định được bị cáo đang sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma tuý còn lại sau giám định và các vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ là đảm bảo quy định.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 602.73 mà Bút làm phương tiện thực hiện tội phạm, xác định được là xe của anh Lò Văn L (bố bị cáo), khi bị cáo mang xe đi thực hiện tội phạm anh L không biết, chiếc xe đã được cơ quan điều tra trả lại cho anh L là đảm bảo theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn B 01 năm 10 tháng (một năm mười tháng) tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng (túi chứa 0,18 gam Methamphetamine); 01 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã được bóc mở.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 064537).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 175/QĐ-VKSSM ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/10/2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/10/2023)./.

Cỡ chữ