- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Mè Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023 /HSST Ngày 12-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hoa.
2. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký tòa án Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 62/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Mè Văn C, sinh năm 1990 tại Phú Thọ; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu 1, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mè Văn T và bà Nguyễn Thị T; vợ: Nguyễn Thị H; con: có 02 con, lớn sinh năm 2014 nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/9/2022; hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu 1, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/9/2022, tại đoạn đường thuộc khu 3, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang bị cáo Mè Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mè Văn C và niêm phong vật chứng theo quy định, các vật chứng gồm: 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng có dòng kẻ, mở ra mặt trong màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng (Mè Văn C khai nhận là ma túy loại Heroine); 01 mảnh nilon màu vàng có kích thước 07cm x 05cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 130 màu đen lắp sim số 0337.314.772 và 0374.875.033; 01 xe mô tô có tem nhãn HONDA Dream biển số 19H3-8770; số máy: LC150FMG01672084; số khung: LWGXCHL01672084 – tại lốc máy có in chữ LONCIN.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo C. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 1312/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng là: 0,191gam”
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Vào khoảng hơn 12 giờ ngày 23/9/2022 bị cáo sử dụng số 0374.875.033 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 130 gọi điện đến số 0973.994.404 của Tạ Xuân P, sinh năm 1987, HKTT: khu 10, xã Minh P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine. P đồng ý và hẹn bị cáo đến khu vực bờ đập thuộc khu 3, xã L, huyện P để giao dịch ma túy. Bị cáo mượn xe mô tô biển số 19H3-8770 của anh Nguyễn Văn N rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi bị cáo dừng xe và đi bộ cùng P vào trong ngõ. Tại đây, bị cáo đưa cho P 500.000 đồng, P nhận tiền rồi đưa cho bị cáo 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một gói nilon màu vàng và 01 gói giấy hai mặt đều có dòng kẻ có chứa chất bột cục màu trắng. Bị cáo cầm vỏ bao thuốc lá đi bộ ra phía xe mô tô. Khi chuẩn bị lên xe thì bị tổ công tác Công an huyện P kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên.
Ngoài ra bị cáo khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 21/9/2022 bị cáo mua của P 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Bị cáo đã sử dụng hết số ma túy này.
Tại các buổi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và tại phiên đối chất giữa P với bị cáo, P đều không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P khám xét khẩn cấp nơi ở của P tại khu 10, xã Minh P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhưng không thấy có ma túy. P khai báo chiếc điện thoại di động lắp sim số 0973.994.404 của P đã bị rơi mất. Ngoài lời khai bị cáo không có tài liệu nào chứng minh việc P bán ma túy cho bị cáo.
Tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của Mè Văn C và Tạ Xuân P, kết quả: Mè Văn C dương tính với các chất ma túy Morphine-Heroin-Opiates (MOP); âm tính với các chất ma túy Methaphetamine (MET); Maijuana (THC); Amphetamine (AMP). Tạ Xuân P âm tính với các chất ma túy nêu trên.
Cáo trạng số 02/CT-VKSPN ngày 30/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Mè Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mè Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Mè Văn C từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2022. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/9/2022, tại đoạn đường thuộc khu 3, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang bị cáo Mè Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,191g ma túy, loại heroin để sử dụng
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo C có nhân thân tốt. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.
Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Đối với 0,131 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong bì giấy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ: Đây là là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Vật chứng chứng này là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh nilon màu vàng có kích thước 07cm x 05cm thu giữ của bị cáo: Đây là lớp vỏ bọc ngoài gói ma túy của Mè Văn C. Vật chứng này không có giá trị sử dụng, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 130 màu đen số seri 1: 359016095216589; số seri 2: 359016095716588 thu giữ của bị cáo: Đây là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với sim số 0374.875.033 thu giữ của bị cáo: Đây là sim số của bị cáo và sử dụng để liên lạc mua ma túy. Do sim số này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với sim số 0337.814.772 thu giữ của bị cáo: Đây là sim số của bị cáo. Sim số này không sử dụng vào việc phạm tội và bị cáo không đề nghị lấy lại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô có dán tem nhãn HONDA Dream biển số 19H3-8770; số máy: LC150FMG01672084; số khung: LWGXCHL01672084 (tại lốc máy có in chữ LONCIN) thu giữ của bị cáo: Bị cáo khai nhận là mượn của anh Niên. Khi mượn xe bị cáo không nói cho anh Niên biết mượn xe để đi mua ma túy. Xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Vì vậy cần trả lại cho anh Niên là phù hợp.
Về hành vi mua và sử dụng ma túy vào khoảng 19 giờ ngày 21/9/2022 của bị cáo: Do số ma túy này bị cáo đã sử dụng hết, không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh hành vi mua và sử dụng ma túy này nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý là phù hợp.
Về hành vi bán ma túy cho bị cáo của anh P: Anh P không thừa nhận việc bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc này. Khi kiểm tra sử dụng ma túy đối với anh P cũng cho kết quả âm tính. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý anh P là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 ; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
[1] Tuyên bố bị cáo Mè Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mè Văn C 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2022.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Mè Văn C.
[2] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 130 màu đen số seri 1: 359016095216589; số seri 2: 359016095716588
Trả lại cho anh Nguyễn Văn N 01 xe mô tô có dán tem nhãn HONDA Dream biển số 19H3-8770; số máy: LC150FMG01672084; số khung: LWGXCHL01672084 (tại lốc máy có in chữ LONCIN)
Tịch thu tiêu hủy: 0,131 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong bì giấy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh nilon màu vàng có kích thước 07cm x 05cm; sim số 0374.875.033; sim số 0337.814.772.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện P theo biên bản bàn giao ngày 03/01/2023)
[3] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Mè Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Trong thời hạn 15 ngày người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện P, tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ; - THA HS, DS huyện P, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |