vanban.org

Bản án 03/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. * Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HSST
Ngày 14/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Huyền

Hội thẩm nhân dân: Ông Lăng Văn Thủy và ông Trần Đức Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B – tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2022/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Nông Văn H. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1990 tại Bắc Kạn.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 1B, xã S, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn H1 (đã chết) và bà Đinh Thị C; vợ là Nông Thị H và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 04/10/2022, tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an xã N đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực đường liên thôn N – L thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn phát hiện một đối tượng nam giới đang đi bộ theo hướng N – R có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu đối tượng dừng lại để kiểm tra, đối tượng không xuất trình được giấy tờ tùy thân và trình bày họ tên là Nông Văn H trú tại thôn 1B xã S, huyện B, tỉnh Bắc Kạn và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng một chiếc lá cây màu xanh đang cầm trên tay phải. Kiểm tra bên trong gói nhỏ trên có 02 gói nhỏ trong đó 01 gói được gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén màu hồng. Kết quả thử phản ứng trùng với đặc trưng của loại ma túy tổng hợp. Sau khi thử phản ứng tiến hành niêm phong trong phong bì ký hiệu “H1”; 01 gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng bên trong có 01 cục chất màu nâu. Kết quả thử phản ứng trùng với đặc trưng của chất ma túy loại heroine niêm phong trong phong bì ký hiệu “H”. Chiếc lá cây màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu “H2”. Ngoài ra không phát hiện thu giữ đồ đạc, tài liệu nào khác.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Văn H. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Nông Văn H, xác định: Toàn bộ số chất màu nâu có trong phong bì ký hiệu “H” có khối lượng là 0,296 g (không phảy hai chín sáu gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất màu nâu trên được gói trong mảnh giấy màu trắng và niêm phong trong phòng bì ký hiệu “GĐ” để gửi giám định; 02 viên nén màu hồng có trong phong bì ký hiệu “H1’ có tổng khối lượng là 0,185g (không phảy một tám năm gam). Sau khi cân 02 viên nén trên được gói trong mảnh giấy màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ1” để gửi cơ quan giám định.

Do tại thời điểm xảy ra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa có thủ trưởng Cơ quan điều tra nên ngày 05/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn để giải quyết.

Ngày 06/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn đã ra Quyết định khởi tố vụ án số 40 đối với vụ việc trên về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 11/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra theo thẩm quyền.

Kết luận giám định số 222/KTHS-MT ngày 14/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận

- Mẫu chất màu nâu dạng cục trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,296g (không phảy hai chín sáu gam).

- 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,185g (không phảy một tám năm gam).

Quá trình giải quyết vụ án Nông Văn H khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 04/10/2022 Hưng một mình đi bộ từ nhà ở thôn 1B, xã S, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến thôn N, xã S rồi đi nhờ xe của một người đàn ông lạ mặt đến thôn P, xã N, huyện B thì xuống xe đi bộ về hướng thành phố B1 với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đi được khoảng 100m H gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên tuổi địa chỉ có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên đã hỏi mua ma túy với người này với số tiền 200.000đ, người đàn ông cầm tiền và đưa cho H 01 gói được gói bằng lá cây màu xanh bên trong có 02 gói nhỏ ma túy trong đó, có 01 gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng bên trong có một cục chất màu nâu và 01 gói được gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén màu hồng. Sau khi mua được ma túy H đi bộ quay về đến khu vực thôn N, xã N thì gặp tổ công tác của cơ quan công an. H đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho tổ công tác.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSBT ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Nông Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

* Điều luật có nội dung:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật và tội danh như đã viện dẫn ở trên và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38/BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T183 bên trong có: 0,260g (không phảy hai sáu không gam) ma túy loại Heroine trong phong bì ký hiệu GĐ và 0,155g (không phảy một năm lăm gam) ma túy loại Methamphetamine trong phong bì ký hiệu GĐ1 cùng phong bì, bao gói cũ cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC’ bên trong có toàn bộ giấy gói, mảnh nilon và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H” và “H1”; 01 (một) phong bì ký hiệu “H2” bên trong có 01 chiếc lá cây màu xanh.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, không có khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung, tại phiên tòa xác định: Do bản thân sử dụng chất ma túy nên ngày 04/10/2022 tại thôn N, xã N, huyện B tỉnh Bắc Kạn Nông Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,481 gam ma túy, loại Heroine và Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ qui định tại điểm i khoản 1 Điều 249/ BLHS thấy việc truy tố, xét xử bị cáo về: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cần được xử lý nghiêm bằng hình phạt pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Không có tình tiết tăng nặng; được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo có ông nội là liệt sĩ được Tổ quốc ghi công; được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất; Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không biết tên tuổi địa chỉ nên không có cơ sở xác minh.

Vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T183 bên trong có 0,260g (không phảy hai sáu không gam) ma túy loại Heroine trong phong bì ký hiệu GĐ và 0,155g (không phảy một năm lăm gam) ma túy loại Methamphetamine cùng phong bì, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì ký hiệu “VC” bên trong có toàn bộ giấy gói, mảnh nilon và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H” và “H1”; 01 (một) phong bì ký hiệu “H2” bên trong có một chiếc lá cây màu xanh. Tất cả đều không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm ruộng thu nhập thấp. Qua xác minh tại địa phương không có tài sản riêng nên không áp dụng.

Án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định (có đơn xin miễn án phí).

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

* Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T183 bên trong có 0,260g (không phảy hai sáu không gam) ma túy loại Heroine trong phong bì ký hiệu GĐ và 0,155g (không phảy một năm lăm gam) ma túy loại Methamphetamine cùng phong bì, bao gói cũ cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì ký hiệu “VC” bên trong có toàn bộ giấy gói, mảnh nilon và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H” và “H1” ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “H2” bên trong có 01 chiếc lá cây màu xanh. (Tất cả vật chứng số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an – Chi cục thi hành án dân sự huyện B).

* Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn H.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ