vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quang T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/11/2022 Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quang T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày: 23 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Vinh và bà Trần Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Quang T, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1997 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang P và bà Trần Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ sau đó chuyển sang tạm giam, kể từ ngày 29/11/2022 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 19/11/2022, Lê Quang T đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đi bộ đến đoạn đường Hùng Vương thuộc khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình gặp một người đàn ông không rõ lai lịch rồi hỏi mua được 01 gói ma túy được bọc trong gói nilon màu trắng trong suốt, bên trong chứa 12 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với giá 1.000.000 đồng. T cầm số ma túy mua được đi bộ về nhà đến đoạn đường Nguyễn Hàm Ninh thì bị Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 1298/KL-KTHS ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 12 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược màu hồng, trên mặt mỗi viên có in chữ WY thu giữ từ Lê Quang T là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 1.273g;

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ 01 túi nilon trong suốt, trong đó có chứa 12 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (là chất ma túy).

Đối với người đã bán ma tuý cho T nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ nên chưa có cơ sở để giải quyết. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSBĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 15 đến 18 tháng tù; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong.

Bị cáo Lê Quang T nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là đã ân hận và nhận thức được sự sai trái trong hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc thu giữ các vật chứng của vụ án và các hành vi, quyết định tố tụng khác của Điều tra viên đều được thực hiện đúng pháp luật. Việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản Kết luận giám định cũng như nội dụng bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã xác định được: Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 29/11/2022, bị cáo Lê Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,273g chất ma tuý, loại Methamphetamine, để sử dụng thì bị Công an thị xã B phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tang vật liên quan. Đây là chất nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 247, danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tàng trữ trái phép. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là một người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hoàn toàn nhận thức được ma tuý là chất bị pháp luật nghiêm cấm tàng trữ trái phép nhưng chỉ vì ăn chơi, nghiện ngập và để có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp sự nguy hại của ma túy và bất chấp sự nghiêm trị của pháp luật, đã cố tình mua và tàng trữ 1,273g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Trong tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng và gây nhiều hậu quả xấu đến cuộc sống của người dân, xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về vật chứng vụ án: Xét thấy 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 1298/KL-KTHS, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 1,14g chất ma tuý Methamphetamine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ vào c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quang T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/11/2022

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quang T 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B ngày 07/02/2023.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm

Cỡ chữ