- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 16-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/HS-ST ngày 04-01-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 09-01-2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15-4-1973, tại Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đức T1 (Đã chết), con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1945; Vợ là Trần Thị S, sinh năm 1975 và 01 con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Văn Q, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn N, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
+ Anh Lương Văn T2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lê Thanh C, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức T có quán cắt tóc tại số nhà 219, đường Nguyễn Phúc, tổ dân phố Phúc Tân, phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 13-12-2023, Lê Văn Q và Lương Văn T2 đến quán cắt tóc của Nguyễn Đức T để hỏi mua các số lô, số đề. T đồng ý bán và bảo tự xé tờ lịch trên tường và viết các số lô, số đề muốn mua. Lê Văn Q đi vào xé một tờ lịch dùng bút bi màu xanh, thân bút có chữ TL-023BALL POINT PEN 0.8mm nhãn hiệu TL của T để sẵn trên mặt bàn cắt tóc tự viết các số lô, số đề muốn mua vào mặt trắng của tờ lịch (tờ cáp ghi số lô, số đề). Q mua hai số lô là 38, 83 mỗi số 75 (bẩy mươi lăm) điểm x 23.000 đồng/1 điểm = 3.450.000 đồng và năm số đề gồm số 38, 83, 39, 93, 33 mỗi số 10.000 đồng. Tổng số tiền Q mua số lô, số đề của T là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng. Sau khi tự viết các số lô, số đề vào tờ cáp, Q xé một phần chưa viết của tờ cáp và chép lại các số lô, số đề vừa mua vào rồi cất vào túi quần phía trước bên phải chiếc quần mà Q đang mặc với mục đích để đối chiếu khi xác định thắng, thua; Còn tờ cáp đã ghi các số lô, số đề vừa mua cùng với số tiền 3.500.000 đồng Q đưa cho T. T nhận 3.500.000 đồng cất vào túi quần phía trước, bên trái chiếc quần T đang mặc, còn tờ cáp ghi số lô, số đề Q mua T để lên mặt bàn cắt tóc. Sau khi Q trả tiền cho T, Lương Văn T2 cũng bảo T em muốn chơi vài con anh ạ, T2 xé một tờ lịch và sử dụng chiếc bút bi Q vừa dùng để viết các số lô, số đề. T2 mua của T hai số lô là 06, 60 mỗi số 50 (năm mươi) điểm x 23.000 đồng/1 điểm = 2.300.000 đồng và năm số đề, mỗi số 10.000 đồng. Tổng cộng T2 trả cho T là 2.350.000 (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng. Sau khi viết xong T2 cũng xé phần chưa viết của tờ cáp và chép lại các số lô, số đề vừa mua và cất vào túi quần phía trước, bên trái chiếc quần mà T2 đang mặc; Còn tờ cáp có số lô, số đề vừa mua cùng số tiền 2.350.000 đồng T2 đưa cho T. T nhận số tiền 2.350.000 đồng cất vào túi quần phía trước, bên trái chiếc quần T đang mặc và đặt tờ cáp của T2 lên mặt bàn cắt tóc thì bị Công an thành phố Yên Bái bắt quả tang.
Tổng số tiền Nguyễn Đức T đã bán số lô, số đề cho Lê Văn Q và Lương Văn T là 5.850.000 (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
Quá trình điều tra đã xác định: T tự ghi số lô, số đề và trả thưởng cho người chơi theo cách thức như sau: Đối với số lô, căn cứ vào hai số cuối của 27 giải thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc quay thưởng cùng ngày để xác định thắng, thua bạc. Nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối của một trong 27 giải thưởng thì người chơi thắng bạc, T phải trả cho họ 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng)/01 điểm lô đã mua. Đối với số đề, căn cứ vào hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết Miền Bắc quay thưởng cùng ngày để xác định thắng thua. Nếu người mua số đề có số trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì T phải trả cho họ số tiền gấp 70 (bảy mươi) lần số tiền họ đã mua số đề đó. Nếu không trùng thì T được hưởng toàn bộ số tiền người chơi đã mua các số lô, số đề.
Vật chứng tạm giữ khi bắt quả tang gồm:
- Tại mặt bàn quán cắt tóc gồm: 03 mảnh giấy có kích thước hình dạng khác nhau, trên mỗi mảnh giấy một mặt có in sẵn các chữ cái, chữ số tự nhiên, hình kiểu tờ lịch, mặt còn lại có ghi các chữ cái chữ số tự nhiên; 01 bút bi mực xanh, vỏ màu xanh, trên thân bút có dòng chữ TL-023 BALL POINT PEN 0.8mm; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung, vỏ máy màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0975.276.412.
- Tạm giữ tại túi quần phía trước, bên trái chiếc quần T đang mặc số tiền 5.850.000 đồng; 01 mảnh giấy có kích thước (8 x 10) cm.
- Tạm giữ tại túi quần phía trước, bên phải chiếc quần T đang mặc 01 ví giả da màu nâu, kích thước (9 x 22) cm, trong ví có 01 thẻ Ngân hàng BIDV, 01 căn cước công dân đều mang tên Nguyễn Đức T và số tiền 15.970.000 đồng.
- Tạm giữ tại túi quần phía trước, bên phải chiếc quần Lê Văn Q đang mặc số tiền 30.000 đồng và 01 mảnh giấy không xác định hình dáng, kích thước cụ thể, một mặt in sẵn các chữ cái, chữ số tự nhiên, mặt còn lại có ghi các chữ cái, số tự nhiên.
- Tạm giữ của Lương Văn T tại túi quần phía trước, bên phải chiếc quần Thưởng đang mặc số tiền 29.000 đồng và tại túi quần phía trước, bên trái 01 mảnh giấy không xác định hình dáng, kích thước cụ thể, một mặt in sẵn các chữ cái, chữ số tự nhiên, mặt còn lại có ghi các chữ cái, số tự nhiên.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp tại số nhà 219, đường N, tổ dân phố P, phường N, thành phố Y thu giữ: 01 đốc lịch treo tường có kích thước (61,5 x 36) cm, trên đốc lịch có gắn một quyển lịch xé (bloc lịch) có kích thước 20,5 x 14) cm; 02 mảnh giấy có hình dáng, kích thước khác nhau trong tủ kính được kê trong quán cắt tóc, một mặt có in sẵn các chữ cái, số tự nhiên, họa tiết kiểu tờ lịch, mặt còn lại có ghi các chữ cái, số tự nhiên.
Khám xét tại chỗ ở tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại bản Kết luận giám định số 648/KLGĐ ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Toàn bộ số tiền Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Yên Bái gửi giám định đều là tiền do ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSTP ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố Nguyễn Đức T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Đánh bạc. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vụ án đủ các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ trong vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại quán cắt tóc của mình tại số nhà 219, đường N, tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Đức T đã có hành vi bán các số lô, số đề cho Lê Văn Q với số tiền là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng và bán các số lô, số đề cho Lương Văn T2 với số tiền là 2.350.000 (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền T đã bán cho Lê Văn Q và Lương Văn T2 là 5.850.000 (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng. Hành vi của Nguyễn Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi đánh bạc của bị cáo Nguyễn Đức T là đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, biết hành vi mua bán các số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, tệ nạn mua bán số lô, số đề đã làm ảnh hưởng đến kinh tế của nhiều gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, dăn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm, gia đình bị cáo là người có công với cách mạng (bố, mẹ bị cáo là ông Nguyễn Đức T1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bà Nguyễn Thị L được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Nguyễn Đức T chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung
Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Lê Văn Q và Lương Văn T2 là người đã mua các số lô, số đề của Nguyễn Đức T, hành vi của Q và T2 là vi phạm pháp luật nhưng số tiền Q, T2 mua số lô, số đề dưới 5.000.000 đồng, chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” nên Công an thành phố Yên Bái đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với 01 bì giấy niêm phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi “Tiền thu giữ trên người của Nguyễn Đức T khi bị bắt quả tang ngày 13/12/2022 (sau khi giám định)”, mặt sau phong bì các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Phạm Văn T, Đồng Thu H và ba hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Yên Bái, bên trong phong bì có tổng số tiền 5.850.000 (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 đốc lịch treo tường có kích thước khoảng (61,5 x 36) cm, trên đốc lịch có gắn 01 quyển lịch xé (đã xé) có kích thước khoảng 20,5 x 14) cm; 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Nguyễn Đức T ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu H, Đinh Mạnh C, Nguyễn Tiến S, Vũ Thị Thanh H, Nguyễn Đức T và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 10 giờ 20 phút ngày 23/12/2022); 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Lê Văn Q trong vụ án đánh bạc xảy ra tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu H, Phạm Văn T, Nguyễn Tiến S, Lê Văn Q và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 23/12/2022); 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Lương Văn T2 trong vụ án đánh bạc xảy ra tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu H, Phạm Văn T, Nguyễn Tiến S, Lương Văn T2 và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 17 giờ 20 phút ngày 23/12/2022); 10 vỏ phong bì niêm phong đã được bóc mở. Xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tài sản, đồ vật không liên quan đến tội phạm, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 5.850.000 (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng thu giữ của Nguyễn Đức T.
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 đốc lịch treo tường có kích thước khoảng (61,5 x 36) cm, trên đốc lịch có gắn 01 quyển lịch xé (đã xé) có kích thước khoảng 20,5 x 14) cm; 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Nguyễn Đức T ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu Hằng, Đinh Mạnh Cường, Nguyễn Tiến Suốt, Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Đức T và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 10 giờ 20 phút ngày 23/12/2022); 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Lê Văn Q trong vụ án đánh bạc xảy ra tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu H, Phạm Văn T, Nguyễn Tiến S, Lê Văn Q và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 23/12/2022); 01 phong bì niêm phong do Công an thành phố Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vật chứng tạm giữ của Lương Văn T2 trong vụ án đánh bạc xảy ra tại tổ dân phố P phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái ngày 13/12/2022”, mặt sau các mép được dán kín, tại phần mép dán có chữ ký, chữ viết tên của Khuất Thị Thu H, Phạm Văn T, Nguyễn Tiến S, Lương Văn T2 và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong lập hồi 17 giờ 20 phút ngày 23/12/2022); 10 vỏ phong bì niêm phong đã được bóc mở.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái ngày 04/01/2023).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở Tư pháp; - VKSND TP Yên Bái; - Công an TP Yên Bái; - Chi cục THADS TP Yên Bái; - HSNV CATP Yên Bái; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu HS, TA. | THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Quang Trung |