- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 06 tháng 01 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hà
Ông Lê Văn Dũng
Thư ký phiên toà: Bà Kiều Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Hoàn -Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường Nhà văn hòa tổ dân phố An Sơn, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2022/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 167/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Vũ Tiến Đ , sinh năm 1984 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Khu P, xã Đ, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không;Đoàn thể Đảng phái: Không. Con ông: Vũ Chí Đ, con bà: Nguyễn Thị Đ, có vợ: Hoàng Thị T và 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Vũ Tiến Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2022 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Vĩnh Yên; có mặt.
2. Vũ Hùng T, sinh năm: 1977 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Đoàn thể Đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Vũ Hùng M (đã chết) và bà Vũ Thị C, Vợ: Kiều Thị H và 01 người con, Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tháng 1/1998 Vũ Hùng T bị công an thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên) xử phạt hành chính về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”.
- Tại bản án HSST số 88 ngày 29/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xử phạt Vũ Hùng T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985 (tài sản trộm cắp dưới 1.000.000đ), buộc Vũ Hùng T phải nộp số tiền 45.000đ do bán 02 chiếc xe trộm cắp mà có để tịch thu xung quỹ Nhà nước, ngoài ra T1 còn phải nộp 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm. T1 chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/3/1999, kết quả xác minh tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc xác định Vũ Hùng T đã chấp hành xong bản án số 88/HSST ngày 29/7/1998 và không còn phải thi hành khoản nào khác tại thời điểm xác minh.
Bị cáo Vũ Hùng T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vĩnh Yên; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1973; trú tại: Tổ dân phố Dinh, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. vắng mặt.
2. Ông Vũ Chí Đ, sinh năm 1957; trú tại: Thôn Khu Phố, xã Đ Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, Vũ Tiến Đ một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K1-308.75 đi chơi lang thang quanh khu vực thành phố Vĩnh Yên; khi đi đến khu vực cổng Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc thuộc địa phận xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên thì gặp Vũ Hùng T. Qua nói chuyện, Đ biết T1 cũng là người nghiện ma túy loại Heroine nên hỏi T1 có biết chỗ nào bán ma túy Heroine không để góp chung tiền đi mua về cùng nhau sử dụng. T1 nói biết chỗ mua nhưng không có tiền, Đ muốn mua thì đưa tiền cho T1 để T1 đi mua. Đ đồng ý và đưa cho T1 số tiền 290.000đ (Hai trăm chín mươi nghìn đồng). T1 bảo Đ ngồi chờ ở đó rồi điều khiển xe mô tô BKS 88B1-049.40 một mình đến khu vực Rạp 19-5 thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên. Tại đây, T1 gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, T1 không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này đứng bên đường và mua được 01 gói ma túy với giá 290.000đ. Sau đó, T1 cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe quay lại chỗ Đ đang chờ. Thấy Đ , T1 vẫy Đ đi theo mình để đi tìm nơi sử dụng. Đ và T1 điều khiển xe đi đến khu vực nghĩa trang xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên thì bị lực lượng Công an xã Định Trung kiểm tra hành chính.
Quá trình kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của T1 một gói giấy nhỏ bên trong có chứa chất cục bột màu trắng được niêm phong theo quy định ký hiệu là A1, T1 khai nhận vừa mua được số ma túy trên để cho T1 và Đ sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện lập biên bản sự việc. Ngoài ra, Cơ quan công an còn tạm giữ của T1 01 xe mô tô nhãn hiệu KYMCO màu vàng, BKS 88B1-049.40, tạm giữ của Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 88K1-308.75.
Ngày 03/10/2022, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Vĩnh Yên đã thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đ và T1, đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định số 492, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy có trong mẫu ký hiệu A1 thu giữ của Vũ Hùng T và Vũ Tiến Đ . Tại bản Kết luận giám định số 2989 ngày 07/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1487g (Không phảy một bốn tám bảy gam, không kể bao bì) loại Heroine.
Hoàn trả đối tượng còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu giám định gồm: A1 = 0,0971g (không phảy không chín bảy một gam) mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thông báo kết quả giám định cho Vũ Hùng T, Vũ Tiến Đ biết, sau khi nhận kết quả giám định, T1 và Đ không có ý kiến gì, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSTPVY ngày 13/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) (BLHS 2015).
Tại phiên tòa, Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã trực tiếp mua ma túy loại Heroin với lượng như đã nêu trên để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên công bố luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của BLHS 2015 đề nghị xử phạt Vũ Tiến Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2022; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của BLHS 2015 đề nghị xử phạt Vũ Hùng T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2022; đề nghị không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS 2015; tịch thu tiêu hủy 0,0971 gam mẫu và toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định và buộc bị cáo T1, Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T1, Đ đồng ý với luận tội và không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại hòa nhập cộng đồng, tu dưỡng thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc và vật chứng đã được thu giữ, cũng như kết luận giám định và các tài liệu khác. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 07h30’ngày 03/10/2022, Tổ công tác Công an xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên làm nhiệm vụ tại khu vực nghĩa trang thuộc địa phận xã Định Trung, thành phố Vĩnh Yên kiểm tra hành chính đối với Vũ Hùng T và Vũ Tiến Đ phát hiện T1 và Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Vũ Hùng T 01 gói giấy nhỏ, kiểm tra bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng, qua giám định xác định là ma túy, khối lượng là 0,1487g, loại Heroine. T1 và Đ khai nhận mục đích cùng mua số ma túy trên để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện.
Hành vi nêu trên của Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Hêrôine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 xác định vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người.
Trong vụ án này, Vũ Tiến Đ có nhu cầu sử dụng ma túy trước nhưng không biết nơi bán, do đó đã chủ động hỏi Vũ Hùng T để cùng nhau mua về sử dụng. Trong khi đó T1 biết nơi bán nhưng không có tiền nên đã được Đ trực tiếp đưa 290.000đ cho T1 đi mua ma túy. Do đó bị cáo Đ có vai trò chính, bị cáo T1 tham gia với vai trò là người giúp sức tích cực.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Trước khi bị bắt, bị cáo Đ là người có nhân thân tốt. Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; Ngoài ra bị cáo còn có bố đẻ là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đối với bị cáo Vũ Hùng T là người có nhân thân xấu, từng bị công an thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên) xử phạt hành chính về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”. Tại bản án HSST số 88 ngày 29/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xử phạt Vũ Hùng T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về hình phạt chính, Hội đồng xét xử xem xét dựa trên tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Để giáo dục bị cáo biết nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tại trại giam như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tại phiên tòa.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ , T1 là lao động tự do, không có thu nhập ổn định cũng như tài sản nào giá trị để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS 2015.
[7] Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy quá trình lập biên bản sự việc thu giữ được của Vũ Hùng T và Vũ Tiến Đ . T1 khai nhận: T1 mua ma túy của một người nam giới khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7 mét, dáng người cao, gầy, da đen, đeo khẩu trang tại khu vực gần cổng Rạp 19 tháng 5 thuộc địa phận phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên với giá 290.000đ. T1 không biết họ tên đệm, tuổi, địa chỉ nơi ở, nơi cư trú của người này. Cơ quan điều tra - Công an thành phố Vĩnh Yên tiến hành xác minh tại phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, đến nay chưa xác định được người nam giới nào có đặc điểm như T1 đã khai báo. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T1 không có căn cứ nào khác để xác định nhân thân, lai lịch của người đã bán ma túy cho T1, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô BKS 88B1- 049.40, nhãn hiệu KYMCO, xe đã cũ đã qua sử dụng tạm giữ của Vũ Hùng T. Quá trình điều tra xác định: Đăng ký xe mang tên ông Ngô Xuân Dũng, sinh năm 1959, trú tại: Phố Đội Cấn, TDP Chiền, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, ông Dũng mua chiếc xe trên từ năm 2019 tại một cửa hàng bán xe máy cũ với giá 11.000.000đ. Khoảng tháng 5/2021, ông Dũng đã bán lại chiếc xe trên cho chị Vũ Thị H, sinh năm 1973, HKTT: TDP Dinh, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, là chị gái của Vũ Hùng T, chị Hồng mua xe làm phương tiện đi lại với giá 9.000.000đ, hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có giấy tờ mua bán. Sau khi mua xe, chị Hồng vẫn chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ đối với chiếc xe. Sáng ngày 03/10/2022, T1 mượn chiếc xe này của chị Hồng để đi làm, chị Hồng không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của T1. Do vậy, ngày 24/11/2022, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chếc xe mô tô trên cho chị Vũ Thị H là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 88K1- 308.75, nhãn hiệu Honda Wave, xe đã cũ đã qua sử dụng tạm giữ của Vũ Tiến Đ . Quá trình điều tra xác định, đăng ký xe mang tên ông Vũ Chí Đ, sinh năm 1957, HKTT: Thôn Khu Phố, xã Đ Tú, huyện Tam Dương, là bố đẻ của Vũ Tiến Đ . Ông Đức mua chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, đăng ký chính chủ năm 2017, với giá 12.000.000đ. Chiều ngày 02/10/2022, Đ mượn chiếc xe này của ông Đức để làm phương tiện đi lại, ông Đức không biết việc Đ sử dụng xe để đi mua ma túy. Do vậy, ngày 24/11/2022, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Vũ Chí Đ là phù hợp.
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 = 0,0971 (không phảy không chín bảy một gam) mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo T1, Đ bị buộc tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt Vũ Tiến Đ 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (03/10/2022).
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt Vũ Hùng T 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (03/10/2022).
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,0971 (không phảy không chín bảy một gam) mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ” trên giáp lai có chữ ký. (Vật chứng có đặc điểm nêu tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày tại Chi cục Thi hành án dân sự).
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Vũ Tiến Đ , Vũ Hùng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án, thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc; - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên; - Công an thành phố Vĩnh Yên; - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc; - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Việt Quang |