vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hình phạt: Xử phạt bị cáo DVT 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Toàn. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ký hiệu “QT” dán kín, niêm phong lại bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Toàn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hình phạt: Xử phạt bị cáo DVT 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YD
TỈNH BG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày 11 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YD, TỈNH BG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà NTTH

Các hội thẩm nhân dân: Ông LNB và ông LVĐ

Thư ký phiên tòa: Bà PTT - Thư ký Toà án nhân dân huyện YD, tỉnh BG.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YD tham gia phiên tòa: Ông VHS - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh BG và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh BG, Tòa án nhân dân huyện YD, tỉnh BG xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2022/TLST-HS ngày 23/12/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXXST-HS ngày 30/12/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: DVT, sinh năm 19xx

Nơi đăng ký HKTT: Xóm CB 1, xã VT, huyện PL, tỉnh TN.

Chỗ ở: T B, xã T T, huyện VY, tỉnh BG.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 09/12; con ông DVV (đã chết) và bà LTT, sinh năm 1959; vợ là NTM, sinh năm 1983; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG. (Có mặt)

* Người có quyền L nghĩa vụ liên quan:

- Chị LHN, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TS, xã HL, huyện LT, tỉnh VP.

*Người chứng kiến:

- Anh DTL, sinh năm 2000 (Vắng mặt)

Địa chỉ: T G, xã NH, huyện YD, tỉnh BG.

- Anh NXH, sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Địa chỉ: T L, xã HG, huyện LN, tỉnh BG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: DVT thuê nhà trọ ở T B, xã T T, huyện VY, tỉnh BG để ở và làm công việc đi chạy xe ôm ở khu Công Nghiệp Vân Trung, xã NH, huyện YD, tỉnh BG. Trong thời gian này, Toàn có quen biết một người thanh niên tên là L, nhưng không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Do biết Toàn nghiện chất ma túy, nên khoảng 09 giờ ngày 09/10/2022, khi cả hai đang đứng đón khách ở khu Công nghiệp Vân Trung, L cho Toàn hai gói giấy bên trong đựng chất cục bột màu trắng là ma tuý loại Heroine được đựng trong một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Toàn nhận bao thuốc lá bên trong đựng hai gói giấy chứa ma tuý cho vào trong túi đeo chéo trên người rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88D1-505.23, đem ma tuý về để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường gom giáp Quốc lộ 1A thuộc địa phận T T, xã NH, huyện YD thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: Trong túi đeo chéo trên người 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, kiểm tra bên trong có 02 gói giấy bên ngoài có đường viền chấm xanh đỏ, bên trong màu trắng, bên trong 02 gói giấy đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT”; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong có 03 điếu thuốc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 88D1-505.23. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại nhà trọ thuê của Toàn tại T B, xã T T, huyện VY, tỉnh BG nhưng không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 1829/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG kết luận: “Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy mặt ngoài có đường viền chấm xanh đỏ, mặt trong màu trắng đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,165gam, loại Heroine”.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì thư ký hiệu “QT” dán kín, niêm phong lại bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong có 03 điếu thuốc được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, DVT đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 22/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện YD đã truy tố DVT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Toàn đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của người có quyền L nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YD giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo DVT từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2022, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo;

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ký hiệu “QT” dán kín, niêm phong lại bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong có 03 điếu thuốc;

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện YD và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện YD và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền L nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền L nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 09/10/2022, tại khu vực đường gom Cao tốc Hà Nội- BG thuộc địa phận T T, xã NH, huyện YD, tỉnh BG, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh BG phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện YD bắt quả tang DVT đang có hành vi tàng trữ 0,165 gam ma túy, loại Heroin, mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện YD, tỉnh BG truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi quyết định về tội danh, hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguồn gốc dẫn đến biết bao loại tội phạm khác. Bởi ma tuý là chất gây nghiện làm băng hoại sức khoẻ của con người, là hiểm hoạ của đại dịch HIV. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật đồng thời răn đe, phòng ngừa chung về loại tội này đối với xã hội. Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo. Do vậy, việc xử phạt bị cáo với mức hình phạt trong khung đề nghị như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật Hình sự còn quy định hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy, trước khi phạm tội, bị cáo có ba con nhỏ, không có công việc, thu nhập ổn định lại nghiện ma túy, bị tạm giam sau khi phạm tội. Vì vậy, không có điều kiện để đảm bảo thi hành án đối với khoản tiền phạt nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì thư ký hiệu “QT” dán kín, niêm phong bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự bên trong đựng số ma túy đã thu giữ hoàn lại sau giám định; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong có 03 điếu thuốc là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nữa nên cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người thanh niên tên L, là đối tượng đã cho bị cáo ma tuý: Bị cáo khai chỉ biết tên là L, ngoài ra không biết thông tin gì khác. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88D1-505.23, bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy: Qua điều tra xác định đây là xe của chị LHN đã cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng chiếc xe vào việc phạm tội. Ngày 13/12/2022, Cơ quan điều tra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho chị Nhung là phù hợp quy định điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Hình phạt: Xử phạt bị cáo DVT 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Toàn.

2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ký hiệu “QT” dán kín, niêm phong lại bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi đeo bằng vải màu đen; 01 bao thuốc lá màu vàng hiệu Thăng Long bên trong có 03 điếu thuốc;

3. Án phí: Bị cáo DVT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền L nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ