- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn BC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS - ST Ngày 11/01/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Tuấn.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hạnh.
Bà Trần Thị Hương Ly.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2022/TLST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST- QĐ ngày 27/12/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn BC (Tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 18 tháng 8 năm 1976.
Nơi cư trú: thôn P, xã 1T, huyện BS, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm ruộng;Trình độ văn hóa: 4/12.
Họ và tên bố: Nguyễn Văn S1, sinh năm 1953.
Họ và tên mẹ: Dương Thị S2 (Đã chết).
Anh chị em: Gia đình có 06 anh, chị em ruột, bị cáo là con thứ 01.
Vợ: Bế Thị Gấm, sinh năm 1977.
Con: 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/01/2019 bị Công an thành phố N, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00008 QĐ/XPVPHC. Cùng ngày 10/01/2019 đã chấp hành xong. (Có mặt)
* Ngƣời chứng kiến:
- Ông Bế Văn CK1, sinh năm 1969. (Vắng mặt)
- Ông Dương Văn CK2 – sinh năm 1976. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Xóm DD, xã PG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
* Ngƣời bào chữa: Bà Vi Khánh BC – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2022 Tổ công tác Công an huyện Võ Nhai phối hợp với Công an xã PG thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự tại đường liên xóm DD, xã PG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện một người nam giới đang đi bộ tại đoạn đường đất thuộc xóm DD, xã PG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã tiến hành kiểm tra, thì người này khai tên là Nguyễn Văn BC, sinh năm 1976, cư trú: xóm P, xã 1T, huyện BS, tỉnh Lạng Sơn và tự giác giao nộp từ lòng bàn tay phải ra 01 gói giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong chứa chất màu trắng dạng bột và dạng cục, BC khai là Heroine của BC mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn BC, niêm phong số ma túy mà BC giao nộp vào phong bì kí hiệu A. Sau đó đưa BC đến Công an huyện Võ Nhai để giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng bột và dạng cục có trong phong bì ký hiệu A thu giữ của Nguyễn Văn BC ngày 23/10/2022 xác định được khối lượng là 0,176 gam. Lấy toàn bộ số chất bột trên niêm phong vào phong bì ký hiệu M làm mẫu vật gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 1658/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: “Chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,176 gam”.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn BC khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy từ khoảng năm 2011 đến nay nên khoảng 12 giờ ngày 23/10/2022 BC đi bộ một mình đến khu vực đoạn đường đất thuộc xóm DD, xã PG, huyện Võ Nhai để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến đoạn đường đất tại xóm DD, BC thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng cạnh một chiếc xe máy bên đường, qua nói chuyện người đàn ông này nói có bán ma túy loại Heroine nên BC hỏi mua 100.000 đồng thì người này đồng ý và đưa cho BC 01 gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, nói bên trong đựng ma túy, BC nhận gói ma túy và mở ra xem thấy bên trong gói giấy trên đựng chất bột, cục màu trắng, BC xác định là ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, BC cầm ở tay phải rồi đi tìm địa điểm vắng vẻ để sử dụng thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Lời khai nhận của Nguyễn Văn BC phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 02/CT- VKSVN ngày 19/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Nguyễn Văn BC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Kết thúc thẩm vấn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn BC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn BC từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2022.
*Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
**Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
*Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu M bên trong có 0,163 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01vỏ phong bì ký hiệu A, 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, người bào chữa nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, bị cáo từ khi bị phát hiện đến khi xét xử luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, luôn phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng sớm làm sáng tỏ vụ án nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 là phù hợp. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến mục đích tàng trữ và sử dụng của bị cáo là do bệnh tật và để giảm đau; bị cáo phạm tội với khối lượng ma túy nhỏ, ma túy đã bị thu hồi chưa phát tán ra xã hội; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình thuộc hộ cận nghèo, sức khỏe không tốt. Từ những nhận định này người bào chữa đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo; Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa tranh luận bổ sung.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội phạm:
Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2022 tại khu vực xóm DD, xã PG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn BC đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,176 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, khi BC đang cất giấu trên người chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện Võ Nhai phối hợp với Công an xã PG phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,176 gam Heroine của Nguyễn Văn BC đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Nguyễn Văn BC theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án thấy: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm vào sự quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước.Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Xét nhân thân bị cáo thấy bị cáo sinh ra được gia đình nuôi ăn học hết lớp 4 phổ thông, sau đó ở nhà lao động sản xuất, lập gia đình. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00008 QĐ/XPVPHC ngày 10/01/2019 Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, ngày 10/01/2019 đã chấp hành xong. Ngày 23/10/2022 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án cũng như các yếu tố về nhân thân cùng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi và tội phạm bị cáo phạm phải là nghiêm trọng, gây hệ lụy xấu cho bản thân và xã hội, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên không lấy làm bài học tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cần lên mức án cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
* Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng và là thành viên hộ cận nghèo nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét một số vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M bên trong có 0,163 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì ký hiệu B bên trong có 01vỏ phong bì ký hiệu A, 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
Về án phí: Vì bị cáo là hộ nghèo, có đề nghị miễn án phí. Xét bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, cần miễn án phí cho bị cáo.
Về người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn BC tại khu vực đoạn đường đất thuộc xóm DD, xã PG, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên do BC không quen biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Xét ý kiến của người bào chữa tại phiên tòa về nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo là có cơ sở, cần được xem xét.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn BC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Về hình phạt.
1.1. Về hình phạt chính.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn BC 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo BC trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
1.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M bên trong có 0,163 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì ký hiệu B bên trong có 01vỏ phong bì ký hiệu A, 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
* Về tình trạng vật chứng: Vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2022 giữa Công an huyện Võ Nhai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND; - Công an; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Kim Tuấn |