- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xên Văn K - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Xên Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 11-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Khăm Niên;
Ông Nguyễn Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Phùng Tiến Chương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Xên Văn K, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 06/4/1995 tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản NT, xã TT, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Không xác định và bà Xên Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 10 năm 2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Xên Thị N, sinh năm 1973. Địa chỉ: Bản NT, xã TT, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An (Có mặt);
- Người chứng kiến: Anh Trần Minh S. (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 04/10/2022, Xên Văn K điều khiển xe máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1, màu xanh, mang biển kiểm soát 37TA-003.12 của bà Xên Thị N đi từ nhà ở của mình đến bản Đ, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi K dựng xe bên đường rồi đi bộ lên khu vực đồi thì gặp và mua của một người đàn ông tên Khánh (K không biết họ, tên địa chỉ cụ thể) được 01 gói heroin với giá 100.000 đồng. Mua được heroin xong, K lấy ra một ít để sử dụng, số còn lại K gói lại như cũ và cầm trong lòng bàn tay trái rồi quay lại chỗ dựng xe để đi về. Đến 19 giờ ngày 04/10/2022, khi K đi về đến cầu CR1, xã XL, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ dưới đất ngay vị trí của K đứng 01 gói được gói bằng mảnh giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng.
Kết luận giám định số 1207/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 10/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Xên Văn K gửi tới giám định là ma tuý (Tên khoa học là Diacetylmorphine), có khối lượng là 0,1g (Không phẩy một).
Bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-TD ngày 14 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Xên Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Xên Văn K mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án. Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1, màu xanh, mang biển kiểm soát 37TA-003.12 cho chủ sở hữu hợp pháp bà Xên Thị Nguyệt.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Xên Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 19 giờ, ngày 04/10/2022, tại bản CR 1, xã XL, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Xên Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1g (Không phẩy một gam) Heroine nhằm mục đích để sử dụng . Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên Khánh đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Xên Thị N là chủ sở sữu chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1, màu xanh, mang biển kiểm soát 37TA-003.12. Do bà nguyệt không biết K lấy xe máy của mình đi mua ma túy sử dụng nên hành vi của Xên Thị N không cấu thành tội phạm.
Xử lý vật chứng: Cần tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Cần trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1, màu xanh, mang biển kiểm soát 37TA-003.12 cho bà Xên Thị N
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Xên Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Xên Văn K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày 15/12/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
+ Trả lại cho bà Xên Thị N 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1, màu xanh, mang biển kiểm soát 37TA-003.12.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Xên Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 11/01/2023.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Tương Dương; - Công an huyện Tương Dương; - UBND xã TT; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Tương Dương; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |